(Viết về những cô gái Việt lạc loài kiếm sống
ở các nước châu Á thuộc khối Asean
)

Tôi chưa bao giờ tự hào rằng tôi là người tốt. Giới giang hồ bảo tôi là người trọng chữ tín, sống nghĩa khí, giữ thủy chung. Nhưng giới hữu trách lại cho tôi là người gây rối, một thành phần tuy không nguy hiểm nhưng cần phải để ý. Còn giới mô phạm hoặc những nhà đạo đức lại liệt kê tôi vào thành phần bất hảo, gây tệ đoan trong xã hội, cần phải tránh xa.

Tuy thế tôi chưa bao giờ là người xấu. Tôi tin chắc như thế vì tôi biết rõ tôi hơn ai hết. Người ta lên án tôi là bất hảo chỉ vì tôi coi sóc một quán rượu nổi tiếng về đêm, nơi có những cô gái ăn mặc phong phanh với những vũ điệu mambo man dại đủ kích thích những tên đàn ông xa nhà cần một đêm có bạn tình. Thỉnh thoảng ở quán rượu cũng có vài thằng mất dạy, muốn chơi nổi quậy phá nên tôi phải trừng trị theo đúng luật giang hồ. Vì thế, giới hữu trách chẳng ưa tôi nhưng chẳng làm được gì vì những việc tôi làm đều trong bóng tối, không tang cớ cũng chẳng có nhân chứng. Được cái dân giang hồ trọng nể tôi vì tôi biết điều, sòng phẳng, ân oán phân minh. Nói chung tôi chơi được, đôi khi còn chơi ngon hơn những tay anh chị khác. Và tôi chỉ cần vậy, để kiếm sống bình thường ở xứ người.

Sở dĩ tôi hơi dài dòng về con người tôi chẳng phải để phân trần hoặc biện hộ cho việc làm của tôi nhưng vì nó liên quan đến một nhân vật khác. Tôi muốn nói đến Joseph Perdue.

Đâu đó trong đời quý vị gặp một tên đàn ông thật đáng ghét. Một thằng chẳng ra gì, bán rẻ lương tâm. Nhưng những người khác lại không thấy mặt trái của hắn. Người ta chỉ thấy được mặt phải rồi đánh bóng nó lên đến độ hắn bỗng trở thành người hùng, một người hy sinh vì đại cuộc. Mọi người nức nở ca tụng hắn không tiếc lời. Đó chính là trường hợp của Joe Perdue.

May mắn tôi là người thấy được mặt trái của hắn.

Tôi nhớ mãi cái lần đầu tiên hắn bước vào quán. Tôi luôn luôn nhớ mặt khách hàng, cho dù là người tạt ngang quán rượu chỉ một lần trong đời. Nghề quân báo thời còn ở quân đội tạo cho tôi một trí nhớ gần như tuyệt hảo. Hơn nữa, nghề dạy nghề, cái nghề giao du với đám xã hội đen cần có một trí nhớ về sở trường và sở đoản của từng tay anh chị, để biết người biết ta trăm trận trăm thắng. Trước hết, tôi cần biết chắc thằng đàn ông này (đàn bà chẳng bao giờ bước vào quán của tôi) không gây rắc rối, không đem tai họa đến cho tôi, cho quán rượu của tôi. Điều này tôi dựa vào linh tính nghề nghiệp, cũng nhờ mớ kinh nghiệm dày dạn của những năm hoạt động trong đội thám báo. Tôi không giải thích được tại sao. Nếu ngày xưa nhờ linh tính mà tôi đã từng thoát chết khi hoạt động trong vùng địch thì bây giờ linh tính cũng ngầm báo cho tôi những nguy hiểm, những cạm bẫy đang rình rập tôi qua sự hiện diện của tên đàn ông đó. Nếu linh tính bảo an toàn, tôi sẽ mời hắn ngồi xuống, đãi ngay một ly rượu mạnh, gọi là mở màn, gọi một em đến bên trò chuyện, gọi là màn thứ hai, và thăm dò hắn muốn gì và nhất là cái bóp hắn nặng cỡ bao nhiêu. Khi mọi chuyện đi theo thứ tự lớp lang và trôi chảy thì hắn muốn là trời muốn, tôi sẽ thỏa mãn hết những yêu cầu, cho dù khó khăn, của hắn và quán của tôi dư sức cung phụng hắn cho đến chán thì thôi. Còn nếu đánh hơi được sự nguy hiểm đâu đó trong ánh mắt hoặc cử chỉ của tên đàn ông thì tôi nhã nhặn tìm cách từ chối, hoặc gọi thằng pha rượu thay tôi nói chuyện rồi tìm cách tống cổ hắn ra khỏi quán. Hàng trăm lần tôi đoán người chẳng sai.

Vậy mà lần này tôi lại sai. Đúng ra, tôi phải tống cổ hắn ra khỏi quán ngay từ đêm đầu tiên.

Đêm hôm đó vắng khách, đêm thứ Ba. Những đêm hốt bạc là thứ Năm, thứ Sáu và thứ Hai. Hai đêm đầu đông khách là vì dân chúng ở thành phố này chuẩn bị nghỉ cuối tuần ngay từ đêm thứ Năm. Từ đêm đó người ta đã bắt đầu rục rịch ăn chơi, và kéo dài cho đến mãi đêm Chủ nhật. Đêm thứ Hai cũng bộn khách vì cuộc thi sơn vẽ lên thân người hàng tuần, dĩ nhiên trên thân hình các cô gái trẻ. Dưới ánh đèn cực tím, thân hình các cô nổi bật những đường cong gợi cảm mà bọn đàn ông lỡ nhìn thấy khó có thể cưỡng lại được cơn cám dỗ.

Cần nói thêm về những cô gái làm việc tại quán rượu của tôi. Đó cũng là một đặc điểm nổi bật trong số hàng mấy chục quán nằm rải rác trên con lộ chính của thành phố Angeles (Thiên thần), tại Phi luật tân. Đặc biệt vì những cô gái này là người Việt. Quán rượu của tôi nằm cách căn cứ Không quân Clark độ hai dặm. Có lẽ quý vị còn nhớ đây là căn cứ không quân lớn nhất vùng Đông nam á trong thời gian chiến tranh Việt nam. Sau thời gian tham chiến ở Việt nam, đến lúc hiệp định Ba lê ký kết, tôi được điều về làm việc tại đây. Sự cáo chung của Liên bang Sô-viết (1991) kéo theo sự chấm dứt thời kỳ chiến tranh lạnh giữa hai khối tự do và cọng sản. Vì hết chiến tranh lạnh nên các căn cứ quân sự của Mỹ trên toàn thế giới phải đóng cửa bớt, trong đó có căn cứ Clark. Mất việc ở căn cứ Clark, tôi ở lại Phi làm việc ở quán rượu này từ đó đến nay.

Khoảng mấy năm gần đây, số người Việt làm việc ở các nước châu Á thuộc khối Asean ngày càng đông. Quán của tôi cũng thế. Ban đầu chỉ vài ba cô, dần dần lên đến cả chục. Và bây giờ thì quán hoàn toàn do các cô Việt nam chạy bàn. Khách đến chỉ đòi cho được gái Việt thì tôi giữ gái gốc Phi, hoặc gốc Thái làm gì. Phải nhìn nhận rằng mấy cô gái Việt nhan sắc mặn mà. Một sắc đẹp chín mùi như bông hoa nở trọn vẹn nhưng vẫn thoáng thấy nụ hoa của một nét đẹp chưa khám phá hết vẻ kỳ diệu của nó. Tuy không thuộc loại sắc nước hương trời nhưng nét thẩm mỹ thuần túy Á đông thể hiện lên hết khuôn mặt của những cô gái này, tuổi từ 18 đến 28. Từ mái tóc óng ả đến đôi mắt trong veo, từ đôi má phinh phính trải đều hai bên cánh mũi nở như đôi cánh bướm khép hờ đến làn môi dày với nụ cười duyên dáng, tất cả đều bàng bạc sự ngây thơ, mộc mạc (mặc dù có cô đã gần năm năm trong nghề) của vùng đồng quê thơm mùi lúa chín khác hẳn với sự kiêu kỳ đến hỗn xược của những cô gái ở thành thị thân lấm bụi đời.

Trong đám con gái từ Việt nam sang chạy bàn trong quán rượu của tôi, Hannah nổi bật hơn cả. Thật ra cô tên Hà, đến từ vùng đất Hà tiên. Bất kể tên các cô thế nào tôi đều đổi sang tên Mỹ cho dễ gọi. Như Mai đổi thành Maggie, Vi thành Vicky, An thành Anna, và Hà thành Hannah. Tôi đã từng tham chiến ở Việt nam 2 lần nên biết khá rõ vùng đất Nam bộ. Mảnh đất trù phú, dân chúng chất phác với cuộc sống hiền hòa. Mỏm đất Hà tiên nằm gần cuối nước VN, nơi có bãi cát trắng phau phau nằm sóng soãi dưới ánh trăng trông như thân hình một cô gái đôi tám nằm thưỡn người đùa lả lơi với sóng biển. Về đêm, bãi biển Hà tiên đẹp lẳng lơ nhưng con gái Hà tiên đẹp thùy mị với làn da trắng nuốt đến kỳ lạ. Vậy mà nước da của Hà lại nâu nâu mới khó hiểu. Màu nâu mơ ước của những người Tây phương mà họ phải phơi nắng lâu ngày mới có. Làn da nâu bóng của Hà nổi bật dưới ánh đèn néon trên sàn nhảy. Con gái Phi cũng thường có làn da này nhưng trông tối tối chứ không sáng rực rỡ như làn da của Hà. Màu nâu gợi cảm của Hà như ngầm khoe thân hình của nàng đang hấp thụ khí âm dương ở thời kỳ sung mãn nhất. Còn khuôn mặt Hà lại là một kỹ xảo. Nó kết tụ tài năng của bàn tay đầy ma thuật của một nhà điêu khắc lành nghề. Thân hình nàng đẹp như tượng tạc, không tìm thấy một chút mỡ thừa. Loại mình dây này ăn uống đến mấy cũng chẳng lên cân. Vòng ngực của Hà tôi ngầm đoán phải cỡ 40 phân tây, loại C-cup. Với chiều cao 1m67 của nàng, đôi gò bồng đảo vươn ra ngạo nghễ như hai chiếc sừng trâu chọc thủng thị giác của bọn đàn ông khát tình. Mỗi lần Hà mặc áo tắm 2 mảnh múa biểu diễn trên sàn nhảy, tôi nghe tiếng xuýt xoa đâu đó mỗi khi nàng uốn éo thân hình theo điệu kèn saxô réo rắt của tay nhạc công người Phi. Tiếng huýt sáo miệng nổi lên không ngớt khi nàng ưỡn người quét ánh mắt ướt rượt hết một vòng khán giả. Dĩ nhiên, những lúc đó quán rượu tôi đông nghẹt khách đàn ông. Rượu bia đưa đến từng bàn không ngớt. Hình như Hà càng múa, cổ họng bọn đàn ông càng khô ran.

Trong đám con gái, tôi cưng Hà nhất chỉ vì nàng là cây hái ra tiền của quán rượu. Thứ nữa, Hà xem tôi như bố của nàng. Cuộc đời của Hà nhiều sóng gió, nàng đều tâm sự với tôi và xin ý kiến. Ở điểm này, tôi giữ đúng vị trí của một người lớn, bậc cha chú, và ít nhất là giữ đúng sự liên hệ giữa chủ và nhân viên. Tuyệt nhiên không bao giờ vượt qua giới hạn đó. Bầy con gái luôn gọi tôi là papa, nhưng tiếng “bố” của Hà gọi tôi nghe thân tình hơn, đôi lúc pha chút nũng nịu mà tôi luôn xem đó là một cảm tình đặc biệt nàng dành riêng cho tôi.

Vì Hà luôn nổi bật trên sàn nhảy nên khi Joseph Perdue bước vào, cặp mắt hắn không rời người nàng đang nhảy biểu diễn làm tôi không ngạc nhiên lắm. Hắn vừa bước, mắt dán chặt về phía sân khấu và chọn một một chiếc bàn thật xa sát góc phòng. Nhiệm vụ của tôi là phải quan sát những khách hàng mới, xem chừng họ sẵn sàng lao đầu vào cuộc chơi không, nhưng phải là những tay hào hoa mã thượng, tuyệt đối không thể là bọn bệnh hoạn vũ phu. Tôi phải bảo vệ bầy con gái dưới trướng vì đó là nguồn lợi vô giá của quán rượu.

Joe Perdue ngồi một mình không lâu. Thì có khách nào bước vào quán của tôi lại cảm thấy cô đơn? Họ đến để thưởng thức một chai bia lạnh San Miguel, để ngắm nhìn cho thỏa mắt những pho tượng vệ nữ biết đi. Bởi thế, hắn ngồi chưa nóng chỗ, Anna sà đến chỗ ngay. Bằng đuôi mắt, tôi thấy Maggie nói nhỏ nhỏ gì đó vào tai hắn và chỉ ngón tay về phía tôi. Hắn đưa mắt nhìn về quầy rượu, nơi tôi đang ngồi trên chiếc ghế cao. Joe móc ngay ra một xấp giấy bạc, bóc ra 2 tờ thưởng cho hai cô chạy bàn rồi đứng dậy lững thững tiến về phía tôi.

Tôi hơi ngạc nhiên. Thường thì khách không khi nào boa ngay lúc mới bước vào. Họ đợi thưởng thức màn vũ nóng bỏng đã, gọi một hoặc vài em (tùy theo sự hào phóng) ngồi vào bàn, mua rượu cho các em, rồi chọn một em hợp nhãn để ấp ủ qua đêm; hoặc cả tuần, nếu muốn. Dĩ nhiên, khi đưa một em ra khỏi quán, giá cả phải sòng phẳng, và phải trả trước, trả hết một lần. Sau cuộc vui, lúc đó khách mới boa cho các em, gọi là đền bù công khó về những gì khách đã thụ hưởng. Đằng này, Joe lại boa ngay từ lúc đầu. Hắn muốn chứng tỏ hắn là người hào phóng chăng?

Đền gần, hắn chỉ vào chiếc ghế cao bên cạnh, giọng lịch sự:

- Tôi có thể ngồi đây được chứ?

Tôi cũng lịch sự không kém:

- Mời ông.

Joe ngồi xuống ngay, cặp mắt vẫn không rời sân khấu, đúng lúc Hà biểu diễn những cử chỉ dâm dật nhất, cuồng loạn nhất để chấm dứt màn vũ.

- Chỗ này tốt quá, trông hết sân khấu.

Hắn chìa bàn tay mỏng lét, nham nhám:

- Joseph Perdue.

Tôi bắt tay Joe. Bàn tay hắn khỏe hơn tôi tưởng. Hắn siết chặt tay tôi, gặc gặc mấy cái. Thật không ngờ trông hắn thư sinh mà có bàn tay cứng như sắt. Tôi dè chừng, hình như bề ngoài hắn che dấu một cái gì khác thường.

- Wade Norris.

- Ông là người Mỹ chứ?

- Vâng, dân Ohio, ở Columbus.

Joe lắc đầu:

- Ừm… chưa đến bao giờ. Tôi ở Wyoming.

Tôi hỏi gặng:

- Yellowstone?

- Ồ không… Laramie kia, vùng toàn dân cao bồi.

Anna bước đến với nụ cười mời mọc. Nàng đặt chai bia San Miguel xuống bàn, thêm một ly ướp lạnh đến đóng sương bên ngoài. Nàng lịch sự rót bia từ từ ra ly, tránh sủi bọt và nhoẻn miệng cười:

- Mời ông.

Joe nâng ly bia, đưa về phía tôi. Tôi cũng cầm ly bia, cụng với hắn. Joe làm một hơi cạn ly, còn tôi phải uống từ từ để còn làm việc.

- Tôi nghe nói ông là papa, toàn quyền ở đây.

Không hẳn như thế vì tôi không phải chủ quán rượu. Tay chủ ở xa hơn nửa vòng trái đất, mãi tận Hòa lan. Nhưng cũng đúng, vì tôi điều hành và quyết định mọi việc ở đây, hằng ngày. Tôi gật đầu:

- Ông thấy thành phố này thế nào?

- Không tệ lắm. Những quán rượu trên con đường này gần gần như nhau. Cũng ánh đèn màu, cũng bảng hiệu sáng rực nhưng ở quán ông tôi thấy đặc biệt hơn vì mấy cô gái Việt.

Tôi ngầm đồng ý. Buôn bán mà không có gì đặc biệt hơn người thì làm sao câu khách.

- Ông thấy mấy cô gái thế nào?

- Cô nào cũng trên trung bình…

Joe hất đầu về phía Hannah:

- Trừ cô nàng. Tôi đoán quán của ông đông khách nhờ cô này. Thế… cô gì nhỉ?

- Hannah.

Xem chừng cá đang vờn vờn miếng mồi. Nhiệm vụ của tôi là khéo léo làm cho cá phải cắn câu. Trong lúc bận rộn rót bia ra ly, bằng đuôi mắt tôi kín đáo ra hiệu cho Kat, anh chàng Phi chuyên nghề pha rượu đang đứng sau quầy. Kat hiểu ngay khách muốn gì. Những dấu hiệu ngầm được chuyển đi và chỉ cần vài phút sau, Hà đã chững chạc trong chiếc quần jean bó sát người, áo sơ mi trắng để hở hai hột cúc ở phía trên, uốn éo bước về phía chúng tôi đang ngồi.

- Hannah. Mệt không?

Giọng Hà vui tươi hơn bao giờ:

- OK, bố…

Rồi nàng quay sang Joe, nheo nheo mắt:

- Ai đây?

- Yankee như tôi. Joseph Perdue.

Hà dận chiếc guốc cao gót cỡ 2 tấc trên cặp chân ống điếu dài thườn thượt. Chiếc quần jean xệ đáy ôm sát cặp mông mẩy, tròn lẳn. Nàng chìa bàn tay, chân đứng thõng một bên, giọng lả lơi khiến tôi phải ghen thầm:

- Rất hân hạnh được biết ông. Em, Hannah.

- Chào cô.

Hà mà uốn éo thì khối thằng đàn ông chết. Thân nam nhi chi chí gặp Hà thỏ thẻ vài câu là người mềm nhũn như bún. Còn Joe, thay vì bắt tay, hắn trịnh trọng nâng và nhẹ nhàng hôn lên lưng bàn tay của nàng. Hà nhoẻn miệng người, nháy mắt với tôi. Nàng khẽ cong người, run rẩy vì hàng ria mép của Joe làm nàng nhồn nhột. Đó cũng là một cử chỉ câu khách chuyên nghiệp, một trong những ngón sở trường của Hà. Đến lúc đó, tôi tin chắc cá đã cắn câu.

Hà khoác tay Joe đi đến một chiếc bàn trống. Khoảng 20 phút sau, điều tiên đoán của tôi trở thành sự thật. Hà tiến về phía tôi, trong khi Joe ngồi ở bàn chờ đợi.

- Trông hắn được đấy. Cô nghĩ sao?

Hà vuốt lại mái tóc nhuộm màu nâu nhạt:

- Hắn có nhiều tiền lắm, bố ơi!

- Vậy thì OK. Have a great night!

Bất cứ khách nào muốn dẫn gái ra khỏi quán vui qua đêm đều phải được sự chấp thuận của tôi. Tôi ví các cô như những con bướm đêm vì thời gian làm việc (kiếm tiền nhiều nhất) hoàn toàn thuộc về đêm. Bướm bay đi hút nhụy hoa, còn các cô gái Việt lại bay đi nhả nhụy hoa cho đời. Hầu hết, các cô đều có khách rước mỗi đêm. Như Hà thì hầu như đêm nào cũng có khách. Mặc dù giá của Hà không rẻ, một phi vụ nhanh chóng phải chi cho quán 6 nghìn pêsô Phi, cả đêm là 10 nghìn, khoảng gần 250 đô. Mỗi cô đều hưởng tứ lục, nghĩa là 40% để lại quán, còn 60% thuộc phần các cô.

Vì bướm tản mác vào màn đêm, nên nguyên tắc tôi đặt ra rất nghiêm nhặt hầu để bảo vệ tính mạng của các cô. Trước hết, tôi dò xét cử chỉ và hành động của người khách, biết chắc không có gì nguy hiểm. Sau nữa, các cô phải để lại địa chỉ qua đêm và tôi luôn cho người theo sau để biết chắc các cô đến bãi đáp an toàn. Tài xế taxi chở người cũng là chỗ quen biết, chứ không phải bước đại ra đường vẫy tay. Gặp khách vũ phu, hành hạ các cô gái, tôi sẽ có biện pháp để trừng trị. Nặng hay nhẹ, tùy theo vết tích khách để lại trên thân thể những con bướm đêm.

Và tôi không ngạc nhiên khi thấy Joe trở lại quán ngày hôm sau và chọn Hà lần nữa. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên là lần này Joe bao Hà nguyên tuần. Tính ra, hắn chi cho quán ngót nghét gần một nghìn bảy trăm đô. Một số tiền chi ra không nhỏ đối với khách du lịch rong chơi vài tuần ở các nước Á châu. Thật ra, tôi cũng chẳng màng. Cứ sòng phẳng là được. Chỉ trong 1 tuần du hí với Joe, tính ra Hà kiếm được cả nghìn. Nàng lại kiếm thêm được món tiền để giúp thuốc thang cho cha mẹ đang đau yếu ở quê nhà.

Đó là một cuộc đổi chác mà ai nấy đều bằng lòng. Quán kiếm được một món tiền. Hà vui mừng vì tiền rủng rỉnh rót vào túi. Joe cũng thỏa mãn vì được Hà chiều chuộng suốt cả tuần. Sau dịch vụ này, tôi nghĩ sẽ không bao giờ gặp lại Joe vì chuyến nghỉ hè chấm dứt và hắn đang trên đường bay về Mỹ, về cái xứ Wyoming lạnh cóng người. Vậy mà hai ngày sau, thình lình Joe xuất hiện trước mặt tôi, vào buổi trưa.

Hôm đó là ngày thứ Sáu. Quán vắng hoe, lác đác vài người khách. Buổi trưa tôi chỉ giữ vài ba cô thôi, đến đêm thì cả gần hai tiểu đội bướm mới đổ về. Hắn bước vào, nheo nheo mắt để điều chỉnh thị giác vì quán khá tối. Nhận ra tôi đang ngồi trên chiếc ghế cao, Joe nhanh nhẹn bước lại.

Tôi hắng giọng:

- Ủa, đi một mình thôi sao?

- Hannah nói phải về nhà có chuyện. Chúng tôi hẹn một giờ nữa gặp nhau tại quán Mac Donald ở góc đường.

Giọng hắn không có gì phấn khởi, nếu không nói khá dấm dẳn. Tôi cứ tưởng hắn phải vui khi ở bên Hà chứ. Nghĩ vậy nhưng tôi không gặng hỏi. Chuyện gì xảy ra giữa 2 người, tôi không cần biết. Tôi chỉ xen vào một khi thấy tính mạng của Hà bị đe dọa, hoặc khách phá luật lệ của quán đặt ra.

Quý vị có lẽ không tin sự liên hệ mật thiết giữa tôi và bầy con gái. Chúng tôi nâng đỡ nhau như trong một gia đình. Mỗi cô gái đến quán rượu là một mảnh đời tan vỡ. Họ đã từng tâm sự với tôi, không ít thì nhiều, trong đó hoàn cảnh của Hà đáng thương nhất. Có cô bị chồng đánh đập tàn nhẫn đến phải ly dị và thề sẽ không bao giờ lấy chồng nữa. Như An, thằng chồng đem hết tiền đi đánh bạc đến đổ nợ, ngay đến căn nhà hắn cũng đem cầm luôn. An phải đi làm để chuộc căn nhà. Nàng hứa chuộc xong là từ giã luôn thằng chồng vô trách nhiệm. Như Hà, nhà nghèo, cha mẹ đau yếu, tình duyên đổ vỡ một lần vì thằng chồng uống rượu như hũ chìm. Từ rượu đến thượng cẳng chân hạ cẳng tay chỉ là một bước ngắn. Nàng còn phải bao bọc mấy đứa em ăn học. Tất cả mọi chi tiêu hàng tháng ở nhà đều nhờ vào đồng tiền Hà kiếm được ở Phi. Mỗi mảnh đời là một giọt nước mắt xót xa nhỏ xuống ở quê nhà trộn lẫn với giọt mồ hôi tủi nhục đổ xuống nơi xứ người. Tôi biết không ai vui sướng gì đi làm cái nghề này. Cái nghề để cho đàn ông dày vò mỗi đêm
. Chung quy cũng vì đồng tiền. Mặc dù ai cũng cần tiền nhưng để đi đến quyết định vượt từng ấy dặm đường, đem thân đi tha phương cầu thực là một việc chẳng đặng đừng của những cô gái Việt. Họ đã tìm cách kiếm sống ở quê nhà, nhưng vẫn không xong. Số phận đã đẩy các cô gái Việt vào ngõ cụt, để họ phải mầy mò vượt đường xa đến quán rượu của tôi kiếm sống.

Bởi vậy, khi đến quán rượu làm việc, tôi tự nhận thấy có trách nhiệm phải bảo vệ các cô gái này bằng mọi cách để các cô yên tâm kiếm thật nhiều tiền để từ đó có cơ hội vươn lên. Tôi thẳng thừng khuyên các cô đừng bao giờ lụy tình với bất cứ khách nào, cho dù họ tỏ lời ngon ngọt hứa hẹn. Nói trắng ra, đây chỉ là chuyện mua bán tình dục sòng phẳng, làm gì có tình yêu. Tình dục dài chỉ một đêm, còn tình yêu mới lụy cả đời. Đừng bao giờ tin có một chàng lãng tử từ phương xa đến chuộc các cô ra khỏi vũng lầy như Mã Giám sinh chuộc Kiều. Cứ ước mơ nhưng đừng tin vì thực tế khác chuyện thần thoại rất xa. Thực tế là cố chiều chuộng khách hết lòng, để kiếm thật nhiều tiền. Từ số tiền gom góp tích lũy qua năm tháng, các cô sẽ thoát khỏi kiếp bướm đêm. Đừng chờ đợi ai, đừng mong ước ai nhưng chính các cô tự cứu lấy đời mình. Lời khuyên chí tình của tôi thấm đậm trong trí các cô, và họ luôn giữ trái tim quân bình để chiều chuộng khách.

- Hannah thế nào? Được chứ?

Hỏi nhưng tôi biết Joe bằng lòng những ngày có Hà một bên, vì nếu không, hắn đã trả Hà về quán ngay từ ngày đầu.

- Đưa cô ta đến Manila mua sắm một vài thứ hôm qua. Ông nói đúng, nàng chiều chuộng tôi hết lòng.

- Ông bằng lòng là tôi vui rồi.

Chúng tôi yên lặng nhâm nhi ly bia lạnh. Giọng Mariah Carey ngọt lịm phát ra từ chiếc máy hát đặt ở góc phòng với bản nhạc “Without You” nghe quyến rũ hơn bao giờ. Chợt Joe lên tiếng:

- Tôi tin ông được không?

Tôi nhìn hắn, nghiêm giọng:

- Được chứ.

Nét mặt hắn trở nên nghiêm trọng khác thường. Không lý hắn yêu Hà, tôi nghĩ thầm. Mấy gã đàn ông si tình hễ có tí chiều chuộng lại cứ tưởng đã gặp được người trong mộng. Một con nhỏ mướn qua đêm chiều chuộng hết lòng không có nghĩa là nó đã yêu mình. Tuổi của hắn tôi nghĩ gần gấp đôi tuổi Hà. Vô lý hắn lại ngây thơ đến thế. Và kinh nghiệm cho tôi biết Joe không thuộc loại đàn ông đang mót vợ.

Joe lập lại lần nữa, và lần này tôi thấy trong đôi mắt hắn lóe lên chút ánh thép:

- Chuyện quan trọng. Tôi tin ông được chứ?

Tôi dằn chiếc ly xuống mặt bàn:

- Ông cứ nói. Chuyện này chỉ giữa tôi với ông.

Joe ngập ngừng, nghĩ ngợi. Hắn hơi chồm người về phía tôi, hạ thấp giọng:

- Tôi là nhân viên thuộc bộ phận bảo an quốc gia.

Tiếng nhạc từ chiếc máy hát chợt nổi lên rộn rã át giọng hắn. Tôi nghe không rõ, chữ được chữ mất.

- Cái gì? Xin ông nói lại.

- Ban đặc nhiệm Bảo an quốc gia. Ông nghe hoặc biết bộ phận bảo vệ an ninh quốc gia chứ?

Tôi sống ở Phi từ cuối thập niên 90 và chưa hề quay trở lại quê hương từ đó đến nay. Nhưng nhờ hệ thống mạng lưới toàn cầu, đài thông tin CNN, và một cộng đồng cựu quân nhân Mỹ hiện đang sống ở Phi, tôi biết rất tường tận những gì xảy ra trên đất nước Hoa kỳ.

- Ý ông nói là chống khủng bố?

- Đúng, một phần trách nhiệm của chúng tôi. Nhưng hiện tại ở Phi là mục tiêu chính.

Tôi ngẩn người yên lặng. Tôi biết sau biến cố 9/11, FBI thành lập bộ phận này, nhằm bảo vệ sự an nguy của quốc gia, gồm nhân viên nổi và chìm. Bộ phận này đã làm được rất nhiều việc. Nhưng tôi khâm phục nhất là ban đặc nhiệm đã ngăn ngừa không để một vụ khủng bố nào xảy ra trên đất Mỹ từ sau vụ 9/11. Nhưng tại sao hắn lại nói với tôi nghề nghiệp chìm của hắn? Muốn khoe thành tích với tôi chăng? Để tôi nể nang hắn?

- Có một vài nguồn tin khá tin cậy về khủng bố. Tôi muốn tóm trọn ổ bọn này trước khi bất cứ chuyện gì xảy ra.

Tôi giật mình. Hắn đang nói chuyện khủng bố. Nhìn nét mặt nghiêm trọng của hắn, tôi biết hắn không nói đùa.

- Khủng bố? Đó là lý do ông đến thành phố này? Và có mặt tại quán rượu của tôi?

- Tôi nói với ông rồi. Bọn Al Qaeda đâu để bọn mình yên. Bọn chúng vẫn tìm đủ mọi cách để gây hoang mang sợ hãi trong dân chúng. Nguồn tin cho chúng tôi biết đã 2 tháng nay. Tôi đến đây vừa nghỉ xả hơi vừa điều tra. Và tôi tin chắc tôi sẽ đập nát đầu bọn chúng.

Joe ngưng nói và hớp một ngụm bia lạnh. Hắn lấy hơi rồi nói tiếp:

- Hôm qua, tôi đến Manila và bắt thêm một nguồn tin nữa về đám khủng bố. Rất chính xác. Chúng… sửa… soạn… đánh… phá… thành… phố… Angeles.

Câu sau cùng, Joe nhấn mạnh từng chữ một. Tôi ngỡ tôi nghe lầm nhưng từng chữ hắn rót vào tai tôi nghe rõ mồn một. Tôi suýt bật cười. Cái đám côn đồ du đãng đâm chém nhau vì gái, vì thuốc trắng ở thành phố này thì có nhưng khủng bố xảy ra ở đây thì thú thật tôi chưa bao giờ nghe nói đến. Dân chúng ở thành phố này chưa hề nghĩ đến chuyện khủng bố thì đúng hơn. Phía trên miền Nam của Phi, đám thổ phỉ chuyên đi bắt cóc người để đòi tiền chuộc thì có, nhưng ở đây, ở cái thành phố hiền hòa này mà nói chuyện khủng bố thì cầm bằng nói Cô Bé Lọ Lem có thật vẫn dễ tin hơn.

- Không chừng người đưa tin muốn chơi khăm ông.

- Ban đầu tôi cũng nghĩ như ông. Có thể hắn chỉ tung tin vịt nhưng tôi đã kiểm chứng rồi ông ạ. Nguồn tin thật chính xác. Bọn khủng bố có kế hoạch làm rúng động nước Phi ngay tại thành phố này.

Tôi lắc đầu:

- Chúng tôi chưa bao giờ nghĩ đến chứ đừng nói nghe chuyện khủng bố. Và tôi chắc chắn chuyện khủng bố sẽ không bao giờ xảy ra ở đây.

Tôi chán nản không muốn tiếp chuyện hắn nữa. Tôi cũng không muốn biết chuyện này, nếu nguồn tin xác thực. Tôi chỉ là một tên chủ quán, dưới trướng có khoảng 20 cô gái người Việt, chuyên phục vụ khách để kiếm tiền làm lại cuộc đời. Tôi chỉ muốn ngồi nhâm nhi ly bia lạnh vào buổi trưa nóng nực và nghe mát rượi ở cổ họng, thế thôi. Cuộc sống của tôi bình thường, đơn giản và tôi muốn được sự thảnh thơi, thoải mái kéo dãi mãi cho đến cuối cõi đời. Còn chuyện khủng bố có lẽ hắn nên nói với người khác hay hơn.

- Dân chúng ở Bali cũng chưa bao giờ nghe đến chuyện khủng bố. Vậy mà nó đã xảy ra. Tôi cam đoan với ông rằng chuyện khủng bố sắp sửa xảy ra ở thành phố này, ngay trước mũi ông.

Nghĩ đến chuyện Bali, tôi vẫn còn kinh hoàng. Chuyện xảy ra vào năm 2002. Hai quả bom gài trong hộp đêm ngay trong khu du lịch. Hai trăm người mất mạng. Những ngày sau đó, dân ở thành phố này cũng hoảng sợ, vì bọn khủng bố đặt bom được tại Bali thì chúng cũng có thể gài bom tại một trong những quán rượu đông khách ở Angeles. Nhưng vài tháng sau, chuyện khủng bố dần dần đi vào quên lãng. Khách vẫn tấp nập túa đến các quán rượu, tiệm nhảy, hộp đêm. Đến một lúc nào đó, danh từ khủng bố bỗng nhiên biến mất trong tâm trí người dân. Rõ ràng khủng bố đã không xảy ra, và cũng có thể đúng như lời Joe nói, chuyện khủng bố sắp sửa xảy ra. Nhưng sao hắn lại mất thì giờ nói chuyện đó với tôi.

- Tôi vẫn không hiểu sao ông lại đi nói với tôi chuyện này làm gì? Tại sao ông không đi gặp chính quyền địa phương, phối hợp với họ để bắt trọn ổ bọn khủng bố.

Joe trả lời ngay, không ngần ngừ:

- Tôi cho ông biết vì tôi mong được sự giúp đỡ của ông.

Tôi thật sự ngạc nhiên:

- Tôi? Tôi giúp đỡ ông?

- Tôi nắm được nguồn tin từ Manila. Tên này cũng nằm trong đám phiến loạn ở miền Nam, chuyên bắt cóc tống tiền. Nguồn tin cho biết là tên thủ lãnh đã ra lệnh cho hắn nghiên cứu và thiết lập trạm liên lạc tại Angeles. Tôi biết chắc là khi đường dây móc nối sẵn sàng, ngày giờ hành động sẽ không xa. Có điều là khi vừa nhìn tấm hình, tôi nhớ loáng thoáng đã thấy hắn đâu đó, mới đây thôi.

- Angeles là thành phố khá lớn. Ông mới đến đây có 1 tuần làm sao ông nhận diện được tên này?

- Thì tôi nói là tình cờ mà. Có thể số tôi may mắn bắt được đầu mối trong vụ này. Tôi nhớ mang máng là thấy tên này trên đường Fields. Bởi vậy tôi mới nhờ đến ông. Ông xem tấm hình, rồi cho tôi biết ông có nhận diện được tên này không?

Đường Fields là đại lộ gồm toàn những quán rượu, hộp đêm, và tiệm nhảy. Quán rượu của tôi cũng nằm trên con đường này. Joe rút trong túi một tấm hình cỡ 4x6 trao cho tôi. Hình người trên tấm ảnh hơi mờ, không rõ nét. Tôi không rành về phim ảnh nhưng tôi đoán tấm hình này được chụp từ xa với ống kính tê-lê.

Tấm hình một chàng thanh niên Phi. Tôi đoán y khoảng 25 đến 30. Y ngồi trên chiếc xe gắn máy, mặt hướng về ống kính. Màu da rám nắng phổ biến của một người vùng nhiệt đới. Tất cả những chi tiết tôi nhận được chẳng có gì đặc biệt so với hàng trăm thanh niên khác cỡi xe gắn máy trong thành phố này.

- Trông quen quen nhưng hình không được rõ lắm nên tôi không dám chắc.

- Tên hắn là Ernesto de la Cruz, ông nghe quen không?

Lăn lộn trong nghề lâu năm,  nhất là nghề quân báo dạy cho tôi biết phải làm gì trong tình huống căng thẳng nhất. Nên khi tôi nghe cái tên và nhìn lại tấm hình, tôi bình thản đến độ không ngờ.

- Chưa bao giờ nghe tên hắn.

Joe nhìn tôi chằm chằm. Ánh mắt hắn loang loáng chiếu thẳng vào cặp mắt của tôi. Về phương diện nghề nghiệp, hắn làm sao có khả năng bắt nọn tôi, hoặc bắt được ý nghĩ của tôi qua cặp mắt. Chỉ cần cặp mắt tôi giao động một chút, chỉ một chút thôi, chắc chắn hắn khám phá ra tôi đang cố che dấu một điều gì đó. Nhưng đôi mắt tôi vẫn vững thần và chiếu thẳng vào mắt Joe. Tôi lập lại:

- Xin lỗi, tôi không biết hắn.

Joe ngần ngừ một giây rồi nói:

- Ông cứ giữ tấm hình này. Ông có thể hỏi đám con gái xem cô nào biết hắn không. Nhưng đừng nói tôi đang truy lùng hắn.

- Nếu có người biết hắn thì sao?

- Hỏi cho được chỗ ở của hắn.

Tôi lại lắc đầu:

- Thú thật tôi không muốn dây dưa vào những chuyện như thế này. Ông có thể kiếm người khác.

- Tôi tin ông là một công dân tốt, đúng không?

Tôi không trả lời ngay. Hắn du tôi vào một tình huống chẳng đặng đừng. Bản thân tôi cũng căm thù mấy thằng chuyên đặt bom giết dân lành vô tội.

- Thì cũng đúng.

- Vậy thì cố tìm cho được chỗ ở của nó rồi cho tôi biết. Chúng ta phải đập nát đầu mấy thằng khủng bố.

- Tôi không nói là tôi sẽ tìm được.

Hắn buông thõng:

- Tôi tin ông sẽ tìm được.

Nói xong, hắn bước ra cửa đi thẳng. Tôi bảo Kat, anh chàng pha rượu đưa tôi cái bật lửa và tôi đốt luôn tấm hình ra tro. Người tôi bần thần cho đến khi tấm hình cháy đen rồi vữa ra tro. Sở dĩ tôi bần thần, thấp thỏm vì tôi biết chàng thanh niên trong tấm hình là ai.

( còn 1 kỳ)

 Hải Ngữ phóng tác
Thêm bình luận

Bài vở và hình ảnh xin gởi về This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.