- Đăng ngày 01 Tháng 9 2014
- Lượt xem: 4140

Ngày thứ Bảy, Jun 21, 2014
Ngày sabát (seeking rest) bắt đầu từ mặt trời lặn đêm hôm trước (thứ Sáu) đến lúc mặt trời lặn ngày hôm sau (thứ Bảy). Như thế, người Do-thái nghỉ cuối tuần vào thứ 6 & 7, còn ngày Chủ nhật vẫn làm việc như ngày thường.
Theo truyền thống, đây là ngày Chúa nghỉ ngơi sau 6 ngày tạo dựng trời đất. Nhóm Chính thống Do-thái giữ luật này nghiêm nhặt. Họ không được đụng tờ giấy bạc, ngay cả dùng ngón tay để bấm nút điện, chẳng hạn như bật máy pha cà phê, hoặc lên xuống thang máy. Khi Chúa nhận ra nhóm người này (Pharisêu) theo luật một cách máy móc như thế, Ngài đã chỉ trích, lên án gay gắt (xem Mt. 23:13-29, Mc. 12:40; Lc. 11:39-48; 20:47). Nhưng mãi cho đến bây giờ, nhóm này cũng giữ luật sabát nghiêm nhặt như thuở nào. Chúng tôi biết chắc một điều, Lior – người hướng dẫn hành hương – không thuộc nhóm Pharisêu, vì ngày sabát hôm nay anh ta vẫn theo từng bước hành hương với chúng tôi.
Thành phố Giêrusalem vắng vẻ, xe cộ thưa thớt, vì dân chúng giữ luật sabát. Rời Giêrusalem đoàn chúng tôi tiến lên phía Bắc. Thời tiết thuận hòa vì mưa nhiều. Dọc theo xa lộ 1, cây cối hai bên xanh tươi hơn. Xe tiến về vùng biển Địa trung hải, thăm thành phố Ceasarea. Đây là một trong những thành phố miền biển, với lịch sử bắt đầu từ thời vua Hêrôđê Cả. Thành phố được xây dựng bằng máu và mồ hôi của dân Do-thái và cống hiến cho vua Ceasar Augustus, hoàng đế Rôma. Nó trở thành một thành phố cảng nhộn nhịp và sầm uất nhất thời đó. Tàu bè cập bến, trao đổi hàng hóa, và trở thành một trong những trung tâm buôn bán nhộn nhịp nhất. Nhưng thành phố này gần như bị tàn phá hoàn toàn qua một trận động đất. Con người vẫn kiên gan xây dựng lại. Thành phố lại ngạo nghễ hiên ngang thách đố với thiên tai. Sinh hoạt buôn bán dường như sầm uất hơn. Mãi đến năm 640 AD quân Hồi tấn công và san bằng thành phố. Thành phố được xây dựng lại rồi bị Saladin (thủ lãnh Hồi nổi tiếng về trận mạc trong thời kỳ Thánh chiến, từng đánh bại Thập tự quân) phá hủy vào năm 1187 AD. Cuối cùng, một cơn động đất lại san bằng thành phố, và lần này nó bị quên lãng dưới đống gạch vụn. Công cuộc tìm kiếm và khảo cổ bắt đầu từ năm 1873 và vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Đầu thập niên 1960, người ta đào xới và tìm thấy hòn đá khắc tên Pontius Pilate, tổng trấn Judea, người kết án Chúa Giêsu. Ngày nay, du khách chiêm ngưỡng một nhà hát lộ thiên có thể chứa 4500 khán giả, và công trình dẫn thủy nhập điền của người xưa (aqueduct), dẫn nước đến thành phố từ nguồn nước cách Caesarea 20 dặm. Nước dẫn về để dùng trong mọi sinh hoạt của thành phố, kể cả việc canh tác, hoạt động hầm mỏ, chăm sóc vườn tược...

Xe tiếp tục tiến lên miền Bắc và leo lên Mount Carmel, tiếng Hebrew nghĩa là Nho của Chúa (Vineyard of God). Vùng rừng núi này tiếp giáp với một thành phố duyên hải khác rất nổi tiếng: Haifa. Mỏm núi vươn mình cao trên mặt biển Địa trung hải. Vùng này cây lá mọc xum xuê, xanh tươi suốt năm.Trên đỉnh tọa lạc tu viện dòng Cát Minh (Order of Discalced Carmelite) gồm các đan sĩ sống ẩn dật (kín) và chuyên tâm cầu nguyện. Lịch sử dòng này bắt nguồn từ thời Cựu ước và nhận tiên tri Êlia làm tổ phụ.
Xưa kia, thời Cựu ước, ngay trên núi Carmel này, để củng cố lòng tin của toàn dân Ít-ra-en, tiên tri Êlia có lần thách thức với đám người thờ tà thần Ba-an, xem Đức Chúa của Ít-sa-en và thần Ba-an ai là Thiên Chúa thật, (xem Các Vua 1, 18:20-40). Một bên là tiên tri Êlia của Đức Chúa, một bên là 450 ngôn sứ của tà thần Ba-an. Họ kêu cầu, nhảy múa từ sáng đến chiều mà chẳng thấy lửa thiêu đốt của lễ là con bò mộng đã xẻ thịt đặt trên bàn thờ. Đến lượt tiên tri Êlia, ông kêu cầu Đức Chúa và lửa từ trời ập xuống, thiêu rụi của lễ. Toàn dân Ít-ra-en reo hò tin tưởng vào Đức Chúa, và ông giết hết 450 ngôn sứ Ba-an tại suối Kisôn. Ngày nay, trên mỏm núi này còn dựng bức tượng ghi nhớ biến cố lịch sử này.

Xuống đồi, xe chạy về thành phố Nazarét. Thành phố này chia đều ảnh hưởng tôn giáo, một nửa là dân Palestine, một nửa là Thiên Chúa giáo, nhưng sự tranh dành ảnh huởng ở thành phố này rất căng thẳng, và đôi khi dẫn đến sự xung đột vũ lực, thường là phía Hồi giáo tấn công các nhà thờ Công giáo. Chính quyền Do-thái cố gắng duy trì hòa bình, đặc biệt vùng Nazarét.
Đến Nazareth thăm nhà thờ Truyền tin. Nhà thờ ở tầng trên cùng, tầng dưới bảo tồn những di tích lịch sử. Căn phòng thô sơ nơi Đức Mẹ được Sứ thần hiện ra trao cho sứ mạng làm Mẹ Thiên Chúa. Từ căn phòng này, nhờ tiếng "xin vâng" của cô thôn nhữ Maria mà tội lỗi của cả nhân loại được xóa sạch, (xem Lc 1-26-38). Chương trình cứu rỗi của Thiên chúa bắt đầu từ căn phòng nhỏ hẹp, sơ sài như thế. Ngày nay, căn phòng này đã biến thành một ngôi nhà nguyện nhỏ.
Nhà thờ thánh Giuse nằm bên cạnh nhà thờ Truyền tin. Người ta còn bảo tồn một khoảnh đất, là chỗ làm việc đóng bàn ghế của thánh Giuse.

Lên xe đi khoảng ½ tiếng đến nhà thờ Cana. Nhà nguyện nhỏ đủ cho 38 người tham dự một thánh lễ tưởng nhớ đến phép lạ đầu tiên Đức Giêsu làm trước khi ra đi rao giảng. Tiệc cưới Cana, chúng tôi hân hoan lập lại lời thề hứa hôn nhân. Cả đoàn có 12 cặp. Chúng tôi đứng đối diện, nắm tay nhau, lập lại lời thề hứa. Cũng bàn tay ấy, mấy mươi năm về trước, mơn mởn làn da, bây giờ chợt thấy nham nhám. Có một chút ngậm ngùi của xúc giác nhưng khứu giác vẫn ngửi được mùi thơm từ bàn tay đã chung sức gầy dựng gia đình, và tri giác chợt bảo tình yêu nay được cọng thêm tình nghĩa. Xin Chúa và Mẹ nâng đỡ chúng con đi nốt chặng cuối của tình yêu.

Ngày Chủ nhật, Jun 22, 2014
Capharnaum. Nhà thờ Tám Mối Phúc Thật xây theo hình bát giác. Trên 8 vách nhà thờ ghi lại 8 điều dẫn đến hạnh phúc thật ở cõi đời này, và cả đời sau. Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ; Phúc thay ai hiền lành,vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp: Phúc thay ai sầu khổ,vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an; Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả long; Phúc thay ai xót thương người,vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương; Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa; Phúc thay ai xây dựng hoà bình,vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa; Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,vì Nước Trời là của họ; Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. (Mt 5:1-12; Lc 6:20-23)

Tám Mối Phúc Thật còn được gọi là Hiến Chương Nước Trời, như bản Hiến Pháp của mỗi quốc gia quy định quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người dân. Nước Thiên Chúa cũng có bản Hiến pháp như thế để dẫn đưa con người đến nguồn hạnh phúc viên mãn. Bản Hiến chương này định nghĩa hạnh phúc khác hẳn với quan niệm của con người. Làm sao mà khó nghèo, sầu khổ, hoặc bị bách hại lại dẫn ta đến hạnh phúc trong khi ai cũng nghĩ chính tiền của, thú vui, danh vọng, quyền bính... mới dẫn đến hạnh phúc? Những thứ hạnh phúc này chỉ kéo dài cùng lắm là 100 năm, trong khi Tám Mối Phúc Thật đưa ta đến hạnh phúc vĩnh cửu.
Capharnaum được mệnh danh là thị trấn của Chúa Giêsu vì đây là nơi Chúa dừng chân khá lâu trên đường rao giảng và làm nhiều phép lạ. Nhà thờ Chúa trao quyền cai trị Hội thánh cho thánh Phêrô (Church of the Primacy of Peter), (xem Mt 16:13-20; Mc 8:27-30; Lc 9:18-21). Bài phúc âm đọc vào tuần sau trong lễ kính 2 vị thánh cả Phêrô và Phaolô sẽ nói đến việc trao quyền bính và bây giờ chúng tôi đang hiện diện trong ngôi nhà nguyện được dựng lên để kính nhớ việc Chúa trao quyền cai trị Hội thánh cho Phêrô. Tảng đá khá lớn đặt trước bàn thánh (Mensa Christi) tương truyền là chỗ đức Giêsu ngồi ăn uống với các thánh Tông đồ sau khi đánh cá lên bờ. Dâng lễ cầu nguyện. Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Từ chỗ dâng lễ bước ngay xuống bờ hồ Galilê. Mặt hồ phẳng lặng, trống trải không một con thuyền. Mọi người xắn quần nhúng chân xuống nước. Nước khá ấm, và trong đến nỗi có thể nhìn thấy đàn cá lội tung tăng. Nhìn mông ra hồ Galilê rộng ngút ngàn (thảo nào người ta không gọi là hồ nhưng lại gọi là Sea of Galilee) và tưởng tượng đến thánh Phêrô, vị tông đồ cả, xuất thân là ngư phủ, bắt cá sinh nhai từ hồ này và Chúa đã biến ông thành một tông đồ nhiệt thành, chuyên dẫn dắt người ta về với Chúa.

Xem thêm nhà mẹ vợ ông Phêrô, nơi ông ở rể. Nơi này các thánh tông đồ thường tụ tập với nhau. Nền nhà nguyên thủy màu đen, còn bờ tường màu trắng là đá lấy từ các nơi khác. Nơi đây còn sót lại nền nhà của một hội đường, nơi dân Do-thái thường tụ họp để cầu nguyện.


Làng bà thánh Madalêna. Mới khám phá do một hội dòng Phanxicô muốn xây một khách sạn để kinh doanh, và khi đào đặt móng mới tìm thấy những di tích của một làng xưa. Chính phủ bảo tồn địa điểm và dành cho nhà dòng mảnh đất bên cạnh. Sau khảo cứu, nền nhà và di tích còn sót lại chứng tỏ đây là một gia đình giàu có, vì hệ thống dự trữ nước mưa và cách xây dựng hệ thống tắm gội (ritual bath) khá khoa học vào thời đó. Hệ thống lấy nước mưa dẫn vào phòng tắm có bậc thang, khi mức nước cao sẽ chảy theo một hệ thống ống cống để dẫn ra hồ.
Xem con thuyền cổ xưa 2000 năm, từ thời La mã. Vì hạn hán, 2 anh em tình cờ khám phá ra con thuyền này. Vỏ tàu đã bị hư nát nhiều nhưng vẫn còn hình dung được kích thước và từng mảnh vỏ tàu được đẽo đục từ 13 loại gỗ quanh vùng. Xuống bờ hồ Galilê, đi tàu qua bờ Tiberia. Con tàu lớn, hùng vĩ lướt sóng ra khơi. Gió thổi ngược lên miền Bắc, thổi tạt vào người trên con tàu xuôi Nam. Đến giữa hồ, con tàu ngừng để chúng tôi có dịp quan sát cảnh vật chung quanh. Phía trên kia, cao nguyên Golan, trận chiến mà quân đội Do-thái chiếm đoạt chỉ trong vòng 6 ngày từ tay chính quyền Syria. Chếch bên dưới, một làng đánh cá còn sinh sống, nhưng lượng cá của hồ không còn đủ cung ứng cho cuộc sống của họ nữa, vì vậy hầu hết những gia đình này phải buôn bán thêm để kiếm sống. Nhìn sang bên trái là Caparnaum, nơi chúng tôi vừa rời khỏi. Nhìn xa hơn nữa xuôi Nam là nhánh sông Jordan, nơi Chúa Giêsu chịu phép rửa. (xem Mt 3:13-17; Mc 1:9-11; Lc 3:21-22)
Cuối hồ Galilê về phía Nam là thượng nguồn của sông Jordan. Con sông này chảy dọc theo dải đất Do-thái, men theo biên giới với nước Jordan. Nếu ở trên cao nhìn xuống, hồ Galilê trông như quả bong bóng, và sông Jordan ngoằn ngoèo như một sợi dây giữ chặt bong bóng khỏi bay mất. Cuối sông Jordan đổ vào biển Chết, nơi mà nồng độ muối lên đến 35%.
Nơi thượng nguồn sông Jordan, đoàn hành hương dừng lại vào buổi chiều. Dòng sông trôi lững lờ, cây cối mọc khá xum xuê dọc theo hai bên bờ. Đây, ngay chỗ này, thánh Gioan Tẩy giả đã múc nước đổ lên đầu Chúa Giêsu, khởi sự 3 năm giảng dạy của Chúa, (xem Mt 3:13-17; Mc 1:9-11; Lc 3:21-22). Nghi thức chịu phép rửa được lập lại. Mọi người lần lượt bước xuống, cha linh hướng vúc ngụm nước đổ lên đầu. Chính nghi thức này đã xóa hết tội tổ tông, trở thành con Chúa, và đồng thời có trách nhiệm làm ngôn sứ để rao giảng Tin Mừng. Vụm nước ngày xưa đổ lên đầu Chúa đã trôi về biển Chết, bốc hơi và tan vào khoảng không nào đó, nhưng lúc cúi đầu nhận vụm nước từ tay cha linh hướng, tôi cảm nhận được sự thánh thiêng tuyệt vời, vì tôi đang tái cử hành nghi thức rửa tội trên cùng một dòng sông với Chúa.

Ngày thứ Hai, Jun 23, 2014
Xe chở chúng tôi xuôi Nam nhưng lại bọc về phía biên giới của nước Jordan, dọc theo sông Jordan. Thời tiết nóng dần. Tính ra trong 5 ngày chúng tôi xem như đi một vòng nước Do-thái, bắt đầu từ Giêrusalem, thuộc trung tâm vùng Samaritan, miền Trung của Do-thái, chạy dọc theo miền biển lên mạn Bắc thuộc vùng Galilê, rồi băng qua chiều rộng của Do-thái, tiến về hồ Galilê, và hôm nay xuôi Nam tiến về Biển Chết. Thật ra lãnh thổ của nước Do-thái kéo dài mãi gần xuống Biển Đỏ, giáp Ai-cập nhưng từ Giêrusalem đi xuống miền Nam dân cư thưa thớt vì toàn sa mạc.
Vùng Jêricho, thuộc vùng Palestine nên xe không vào được. Nhưng xe chạy ngang qua Mount of Temptation, mỏm núi Satan đưa Chúa Giêsu lên để cám dỗ về tiền tài và danh vọng (xem Mt 4:1-11; Mc 1:12-13; Lc 4:1-13). Nơi này, Chúa đã ghé ngang nhà ông Giakêu, một người Samaritan tin vào Chúa. (xem Lc 19:1-10)
Xe đi mãi về phía Nam, vượt hết chiều dài của biển Chết, và tiến vào vùng sa mạc Negev, thuộc xứ Judea. Bên trái chúng tôi là biển Chết, còn bên phải là những đồi núi khô cằn chạy suốt xa lộ. Vùng này gọi là Qumran, nơi tìm thấy những văn bản Kinh thánh viết trên giấy cói, bản đồng, và da thú (Dead Sea Scrolls). Đầu thập niên 50 ở thế kỷ trước, các nhà khảo cổ tìm thấy trong hang động hàng trăm văn bản như thế được cất giấu trong các chai lọ. Chính vì thời tiết khô nóng nên những văn bản này được bảo quản qua gần 2000 năm. Thú vị nhất là bộ sách tiên tri Isaia được sao chép cẩn thận trên da thú xưa cổ khoảng 1000 năm. Ngoài ra, người ta còn tìm thấy những văn bản diễn tả niềm tin và đời sống thường nhật của giáo phái Essenes, cũng như các vật dụng dùng trong sinh hoạt hàng ngày. Tất cả những cổ vật này được trưng bày tại viện bảo tàng Shrine of the Book mà chúng tôi vừa thăm viếng ngày thứ Sáu vừa qua.
Người ta tin rằng vào thời kỳ xây dựng đền thờ lần thứ 2, sau khi bị lưu đày từ Babylon trở về, các thầy tu thuộc giáo phái này di chuyển về đây, sống ẩn dật trong các hang động và miệt mài sao chép lại các văn bản Thánh kinh. Có thể giáo phái này liên quan đến thánh Gioan Tiền hô căn cứ vào lối sống ẩn dật khi ngài rút vào sa mạc để sống một thời gian dài (xem Is 40:3-5; Mt 3:3-4; Mc 1:2-4; Lc 3:1-6), chờ đợi đến lúc Chúa bắt đầu rao giảng, ngài mới rời bỏ sa mạc về lại làng mạc.

Dọc theo xa lộ, thỉnh thoảng lại thấy một vùng đất bằng phẳng trồng một loại cây cọ (palm tree) duy nhất. Lior cho chúng tôi biết mỗi ngày một cây phải tiêu thụ chừng 250 gals (946 lít) nước để tạo cây xanh cho vùng sa mạc. Vậy mà chúng tôi cứ nghĩ một cây chỉ mất chừng 10-20 gals. Lior giải thích thêm, Do-thái tận dụng các nguồn nước và hầu hết nước được tái chế để dùng. Khoảng 90% nước tái chế được dùng vào việc tưới cây xanh trên toàn cõi Do-thái.
Nói đến sa mạc ai cũng nghĩ ngay đến nước. Khối Ả rập đang khai thác mớ vàng đen nằm ngay trong lãnh thổ nhưng người ta tiên đoán, khoảng chừng vài chục năm nữa, khi nguồn vàng đen cạn kiệt, nước sẽ trở thành một loại vàng hiếm quý đối với các quốc gia ở vùng này. Lúc đó, khối Ả-rập sẽ phải dùng tiền để mua nước. Vì vậy, Do-thái đã nghĩ đến nguồn nước từ nhiều năm nay.
Kể từ năm 2005, Do-thái đã xây dựng 4 nhà máy lọc nước biển (desalination) để phân phối cho hơn 7 triệu người. Tháng 5/2014 vừa qua, Do-thái lại vừa khánh thành thêm một nhà máy nữa, cách Tel-Aviv chừng 10 dặm. Khoảng 35% dân Do-thái sống nhờ vào nguồn nước từ những nhà máy này. Con số này được tiên đoán sẽ tăng lên 40% vào năm tới và 70% vào năm 2050. Số lượng nước lọc này cung cấp cho cả dân Palestine vùng West Bank và Do-thái đã bán nước cho quốc gia Jordan. (xem http://www.haaretz.com/life/nature-environment/1.596270)
Xe đi mãi và cuối cùng xe dừng lại ở đầu mút của biển Chết để thăm viếng một địa danh mang tên Masada.
Masada, trận chiến cuối cùng của người Do-thái chống đế quốc Rôma. Mỏm đồi trọc ở độ cao 450m so với Biển Chết, đặc biệt ngọn đồi không nhọn nhưng bằng phẳng trên một diện tích rộng 120 nghìn mét vuông (600m x 200m). Vua Hêrôđê Cả (Herod the Great) lập một dinh thự vừa để nghỉ ngơi, vừa để lánh kẻ thù. Nên nhớ vua Hêrôđê Cả không được lòng dân Do-thái nên luôn luôn lo sợ nội thù và trong lịch sử đã có những cuộc ám sát như thế. Masada là nơi để vua nghỉ đông trốn lánh quân thù, và là nơi để vua hưởng thụ đời sống xa hoa của một quân vương. Bởi thế, vua đã xây Masada như một pháo đài để chống quân địch. Hêrôđê Cả cho xây 24 phòng để chứa lương thực, vũ khí nhưng đặc biệt là một phòng tắm hơi với hệ thống phun hơi nóng rất hiện đại. Người Do-thái quan niệm tắm là một cách thanh tẩy (purification), nên họ tắm một cách trang trọng, xem như một nghi lễ trong việc thờ phụng Đức Chúa.
Paul Johnson, sử gia người Anh, trong cuốn "The History of the Jews" thuật lại những lực lượng chống đế quốc Rôma khởi đầu từ năm 66 AD từ thành phố Ceasarea, chứ không phải từ Giêrusalem. Sau khi Chúa Giêsu chết, các lực lượng Do-thái nổi lên chống Rôma dữ dội hơn và ông đoán có khoảng 25 nghìn chiến sĩ, chia thành 3 nhóm: Zealots (nhóm Quá Khích) cầm đầu bởi Eleasar ben Simon (sau này trao quyền lại cho người con tên Menahem, rồi ông này cũng bị ám sát chết); nhóm Cực Đoan (Extremists) cầm đầu bởi Simeon ben Giora; và nhóm Idumeans do John of Giscala lãnh đạo. Hai nhóm Extremists & Idumeans bị tướng Vespasian (sau này là hoàng đế) tiêu diệt và sau khi đền thờ Giêrusalem bị phá hủy (70 AD) chỉ còn lại nhóm Zealots rút về Masada cố thủ do người cháu của Menahem là Eleazar ben Yair lãnh đạo.

Đến đây xin mở một dấu ngoặc để hỏi tại sao dân Do-thái cứ nổi loạn chống lại đế quốc Rôma.
Thời gian đó là thời cực thịnh của đế quốc La mã (mãi đến thế kỷ thứ 5 sau Công nguyên đế quốc này mới sụp đổ). Vua Cesar (Caesar Augutus) trị vì La mã, và bổ nhiệm các quan tổng trấn (governor) cai trị đất Galilê, Samaria, và Giuđêa. Dân Do-thái thời này vẫn có vua và được nhìn nhận bởi đế quốc La mã. Nhìn chung, bối cảnh này như thời Tàu đô hộ An-nam; đất An-nam vẫn có vua, và vua Việt phải được vua Tàu nhìn nhận, và tại nước Việt có đại diện của vua Tàu thường gọi là quan Thái thú (governor). Hai vòng thòng lọng treo vào cổ dân Do-thái, vì vừa phải đóng thuế cho vua Do-thái Herôđê (Herod Antipas) vừa phải đóng thuế cho vua La mã. Thời xưa dân Việt phải đóng thuế nghiệt ngã thế nào (cho triều đình và vua Tàu) thì thời đó dân Do-thái cũng khổ cực vì phải đóng thuế triền miên như vậy. Thuế là một bổn phẩn (bắt buộc) không thể nào tránh khỏi. Ước mơ của dân Do-thái là diệt đế quốc La mã và thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than... để khỏi phải đóng thuế.
Sau nữa, dân Do-thái không chấp nhận bất cứ thần linh nào ngoài Đức Chúa. Trong 5 cái nôi văn minh của nhân loại – Hy-lạp, Ai-cập, La-mã, Tàu, và Ấn-độ – nền văn minh nào cũng thờ đa thần. Riêng Do-thái thờ độc thần, ngay cả lúc bỏ Đức Chúa, họ cũng chỉ thờ con bò vàng. Đã thế, quan quân Rôma lại làm ô uế đền thánh Giêrusalem bằng cách treo tượng các thần ở trong đền. Điều này làm dân Do-thái tức giận. Vua Hêrôđê muốn làm vừa lòng quan Rôma nên không hề lên tiếng phản đối.
Đó là 2 lý do chính để các lực lượng chống đối thành hình. Zealot là một trong những lực lượng như thế.
Trở lại pháo đài Masada. Toàn bộ lực lượng Zealot gồm 967 người vừa đàn bà con nít trụ giữ Masada được 3 năm, gây khó chịu cho hoàng đế Rôma là Titus Vespasian. Lệnh của hoàng đế Vespasian là phải tiêu diệt nhóm Zealots và quan tổng trấn xứ Judea – Lucius Flavius Silva – cầm đầu quân đoàn X gồm 8000 lính Rôma với sự ép buộc trợ lực của hàng nghìn tù nhân Do-thái vây hãm Masada.

Đây là trận chiến cuối cùng của dân Do-thái chống lại sự áp bức của đế quốc Rôma. Với một lực lượng hùng hậu như thế, nhóm Zealots biết không thể nào thoát chết nên đã đi đến một quyết định tối hậu: tự sát. Theo "The Jewish War" của Flavius Josephus (37 AD – 100 AD), sử gia nổi tiếng Do-thái, thuật lại lời kêu gọi của Eleazar ben Yair, vị thủ lãnh như sau:"Hỡi những kẻ trung thành, từ xa xưa chúng ta đã dứt khoát không phục tùng đế quốc La mã hoặc bất cứ một ai ngoài Đức Chúa của chúng ta, thượng đế duy nhất và công chính của loài người, và giờ đây ngày giờ của sự thật đã đến để minh chứng lòng thành của chúng ta đối với Ngài. Ở thời điểm như vậy, chúng ta đừng bao giờ sỉ nhục chính mình; hay nói khác đi chúng ta không thể cam thân làm nô lệ, ngay cả lúc xem ra chấp nhận nó cũng chẳng nguy hại gì... Chúng ta là những người đầu tiên nổi dậy và cũng là những chiến sĩ cuối cùng chiến đấu chống lại quân thù. Đức Chúa đã an bài đồn lũy bất khả xâm chiếm này thành khả dĩ thất thủ. Tất cả đều nằm trong tầm tay của quân Rôma ngoại trừ cái quyền chết cho tự do. Hãy để cho vợ chúng ta chết chứ không để bị làm nhục, và hãy để con cái chúng ta chết trước khi chúng bị bắt làm nô lệ... Và tôi nghĩ rằng Đức Chúa đã cho chúng ta một đặc quyền là chết trong danh dự và chết như một người tự do... Chúng ta chẳng thà chọn cái chết hơn là làm nô lệ.
Sáng ngày 15 tháng 4 năm 73 AD, quân lính Rôma ồ ạt tấn công mặt tây của pháo đài. Khi lên đến mặt thành, một bầu khí yên lặng lạnh lùng bao trùm pháo đài Masada. Lính Rôma không hề gặp bất cứ sự kháng cự nào. Kho lương thực vẫn còn nguyên, nhưng không thấy một bóng người. Truy lùng khắp pháo đài, quân Rôma bắt được 2 người đàn bà và 5 con nít trốn trong hang động và khám phá ra toàn bộ đội quân Zealots đã tự tử chết. Họ chết bằng cách tự giết vợ con mình, rồi lần lượt bốc thăm để giết lẫn nhau; dứt khoát không chịu lọt vào tay quân thù.
Chúng tôi đi toa dây cáp đưa lên đỉnh nên chỉ cần vài phút thay vì cuốc bộ con đường ngoằn ngoèo (snake path) phải mất chừng 45 phút. Nắng đổ lửa trên đầu khách hành hương. Vùng sa mạc Negev mọc từng chặng đồi trọc tiếp nối hun hút mãi tận cuối chân trời, không một bóng cây nên sức nóng càng mãnh liệt. Vậy mà vẫn có từng đoàn người đội nắng cuốc bộ leo lên đến đỉnh.
Lior, hướng dẫn viên Do-thái, hỏi chúng tôi một câu, "luật Do-thái giáo và Thiên chúa giáo cấm tín hữu tự tử, nhưng nếu bạn tự đặt vào tình huống này, bạn sẽ làm gì? Tự tử phạm luật đạo hay đầu hàng làm nô lệ?" Câu hỏi khá bất ngờ, và tôi không tìm được câu trả lời thỏa đáng cho chính tôi. Cha linh hướng nhắc đến Hội nghị Diên Hồng. Tôi cũng nghĩ đến bầu khí hừng hực, sôi sục lòng ái quốc tại thời điểm năm 1284 khi vua Trần Thánh Tông hỏi nên hàng hay nên đánh? Đầu hàng quân Nguyên Mông (con cháu Thành cát Tư hãn) là chấp nhận làm thân nô lệ, hay là đánh rồi có chết đi chăng nữa thì cũng là chết trong vinh quang, chết trong tự do. Toàn dân Việt dứt khoát đánh và kết quả là quân Nguyên Mông thảm bại phải cuốn vó chạy ngược về Tàu.
Tuy hành động tự giết nhau chứ không chịu khuất phục cũng được xem là can đảm nhưng tôi vẫn bâng khuâng tự hỏi, tại sao đội quân Zealots không chịu chiến đấu cho đến chết. Không một tôn giáo nào cấm tín hữu chiến đấu cho đến chết vì lý tưởng tự do. Nếu sau khi giết chết vợ con, rồi những thanh niên, hoặc bất cứ ai có thể cầm được vũ khí, can đảm chiến đấu đến giọt máu cuối cùng rồi tự sát thì hay biết bao. Vì thế, tôi hơi nghi ngờ về việc tự sát này.
Nhà khảo cổ Do-thái Yigael Yadin đào xới Masada vào năm 1963-1965 và chỉ tìm được khoảng 28 bộ xương, tuổi từ 11 đến 22 tuổi. Thế số còn lại, 939 người kia ở đâu? Người ta cho rằng có thể Josephus phóng đại sự kiện. Sự chiến đấu quyết liệt của đội quân Zealots ở Masada là có thật, nhưng việc tự sát có thể là một huyền thoại. Cho dù biến cố tự sát tại Masada là một huyền thoại đi chăng nữa nhưng theo tôi đó là một huyền thoại bi hùng trong lịch sử của dân Do-thái chống lại sự áp bức; thà chết chứ không chịu cam thân làm nô lệ. Chính cái lõi cốt của sự tự sát tại Masada mới đáng kể: thà chết trong tự do còn hơn sống trong nô lệ.
Từ Masada, xe đưa đoàn hành hương đến Biển Chết cách đó không xa. Bề mặt thấp dưới mặt biển 1300 ft (400m), nơi nồng độ muối lên đến 35%. Vì lượng muối cao nên tắm ở biển này giúp chữa lành những bệnh ngoài da. Trời sa mạc xế trưa nắng gay gắt, khiến ai cũng hối hả thay quần áo để ngâm mình một lần trong biển. Thú nhất là người nổi lềnh bềnh, và cách an toàn để cả thân người bồng bềnh là bước lùi xuống biển rồi nhẹ nhàng ngã ngồi ra sau để tránh nước biển vương vào mắt. Muốn đứng lên, khoát nhẹ hai tay ra sau, lấy thăng bằng rồi từ từ đứng dậy. Giới phụ nữ tin rằng chất bùn làm làn da họ mịn màng hơn, nhờ đó khuôn mặt họ trông trẻ hẳn lại.

Ngày thứ Ba, Jun 24, 2014
Rời Đất Thánh, chúng tôi bay sang Thánh đô Rôma. Giã từ mảnh đất Chúa sinh ra, lớn lên và rao truyền một sứ điệp mới cho nhân loại, sứ điệp Yêu Thương. Giã từ Lior – người hướng dẫn nhiều kiến thức, và giã từ David, người tài xế kiên nhẫn chở chúng tôi quang từng chặng đường, đến từng địa danh.
Chuyến bay chỉ mất 3 tiếng rưỡi nhưng loay hoay nhận phòng nên buổi chiều còn vài tiếng làm quen với khung cảnh Thánh đô trước buổi ăn chiều.
Ngày thứ Tư, Jun 25, 2014
Buổi sáng thức dậy sớm, cùng với cha linh hướng ghé qua nhà thờ của nhà dòng Don Bosco chỉ cách khách sạn chừng mươi lăm bước. Khá đông giáo dân và các sơ tham dự thánh lễ buổi sáng. Nói là khá đông nhưng cũng chỉ khoảng trăm đổ lại, và đủ lứa tuổi chứ không hẳn là toàn ông già bà lão. Xong lễ về khách sạn vừa đúng giờ dùng điểm tâm.
Xe bus đưa chúng tôi xuôi nam thăm viếng thành phố Pompeii nhìn ra vịnh Naples bị chôn vùi dưới phún thạch gần 2000 năm trước. Núi Vesuvius cách Pompeii độ 6 dặm (10km) nổi giận khạc ra thần chết vào ngày 24/8 năm 79 AD. Lịch sử của Pompeii bắt đầu từ thế kỷ 8 BC, là nơi thu hút khá nhiều những kẻ giàu có đến nghỉ ngơi tắm nắng và ngắm nhìn phong cảnh đẹp. Dần dà số người đổ về buôn bán sinh sống ngày càng đông, và vào thời điểm đó Pompeii đã cuu mang khoảng 20 nghìn dân. Những ngày trước đó, núi Vesuvius đã vặn mình nhả những cột khói đen, gầm gừ báo hiệu cơn thịnh nộ. Trong quá khứ nó đã chuyển mình như thế nhiều lần nên một số người vẫn sống bình thản, nhưng lần này phần lớn dân chúng lo sợ nên chạy khỏi Pompeii và chỉ còn khoảng 2000 dân ở lại.

Cái ngày định mệnh đó, Vesuvius phun một cột khói cao chừng 12 dặm; nghĩa là cao hơn 2 lần đỉnh Everest, rồi bắn ra từng nhánh dài như vòi con bạch tuộc, theo tác giả Pliny the Younger đứng quan sát ở bên kia bờ vịnh. Vesuvius tiếp tục bắn ra từng khối nham nhạch, đá, và tro và chảy tràn đến Pompeii với tốc độ 70 dặm/giờ. Nhưng chí tử nhất là sức nóng kinh hoàng (superheat) của Vesuvius tỏa ra. Theo nhà nghiên cứu núi lửa Giuseppe Mastrolorenzo, núi Vesuvius phun ra 6 đợt nham thạch, và từng đợt sóng tấn công mang theo một sức nóng khủng khiếp (250 – 300oC) với khí độc (lưu huỳnh) và tro; tất cả phóng đi với tốc độ 100 dặm đã giết chết tất cả mọi sinh vật trong khoảnh khắc. Vì cái chết ập đến quá thình lình và bất ngờ nên người và vật chết không đau đớn nhiều và vẫn giữ nguyên được tình trạng lúc sống. Chỉ trong một ngày, núi lửa Vesuvius đã phun ra cả triệu tấn khối lượng nham thạch đủ chôn vùi Pompeii dưới lớp tro dày gần 5m. Chính lớp tro phủ lên những sinh vật này cứng dần theo thời gian và vô tình đã trở thành lớp vỏ bảo quản được xác chết trong suốt 2000 năm. Những ngày tiếp theo, một lớp tro khác rải đều trên một diện tích 15 dặm khiến những ai sống sót cũng bị ngạt thở chết.

Mãi đến năm 1748, người ta mới bắt đầu đào xới để tìm vàng bạc, châu báu và phải đợi đến thế kỷ 19 với sự tài trợ của chính phủ Ý, các nhà khảo cổ đào xới và kinh ngạc khi thấy cả thành phố gần như nguyên vẹn dưới lớp tro nham thạch. Người và vật chết trong trạng thái như lúc còn sống. Ban đầu tôi ngỡ chính cái áp suất thay đổi đột ngột đã biến xác chết hóa đá nhưng thật ra không phải thế. Những nhà khảo cổ khám phá ra bên trong vỏ nham thạch bọc xác chết là một khoảng không, trống rỗng. Nham thạch tiêu hủy hết thân xác, may ra chỉ còn lại xương cốt chưa kịp cháy tan thì lớp vỏ bọc đã nguội và khô cứng. Vỏ nham thạch gần giống như một cái khuôn đúc và người ta khéo léo bơm thạch cao thồn đầy bên trong. Khi thạch cao cứng, họ cẩn thận gỡ từng lớp tro nham thạch ra để lộ nguyên vẹn tư thế, ngay cả nét mặt, của sinh vật.

Trong Cựu ước Chúa dùng lửa và diêm sinh (sulfur) từ trời thiêu rụi cả thành phố Sôđôm (xem Stk 19:1-29) và chỉ cứu gia đình ông Lót, là cháu của Abraham. Thành phố Pompeii cũng bị lửa và diêm sinh thiêu rụi trong một ngày. Người hướng dẫn cho chúng tôi biết trong khu buôn bán, hàng quán mọc đầy 2 bên đường, nhưng ngoài buôn bán còn có dịch vụ mại dâm ở ngay phía sau quán. Thành Sôđôm cũng phạm tội tà dâm, nhưng nặng hơn, tội đồng tính. Khi 2 thiên thần (khuôn mặt đẹp) đến nhà ông Lót vào buổi chiều, dân trong thành bắt ông phải nộp cả hai để họ giải trí. Ông Lót khẩn khoản xin tha cho họ, và ông sẵn sàng hiến hai đứa con gái còn trinh cho họ nhưng họ vẫn không chịu. Rồi thiên thần khiến họ mù và dẫn cả gia đình ông Lót ra khỏi thành. Có sự trừng phạt trùng hợp giữa 2 thành phố này chăng?
Tu viện Monte Cassino của thánh Biển đức tọa lạc trên ngọn đồi cao. Chúng tôi đến vào lúc các cha đọc kinh chiều. Giọng kinh Gregorian (nghe http://www.youtube.com/watch?v=fCz_kNFludA) vang vọng trong ngôi nhà thờ rộng mênh mông, bay bổng như muốn kéo hồn người nghe lên chốn trời cao. Buổi trưa hôm đó, ngồi lặng thinh trong ngôi thánh đường, thưởng thức một đoạn kinh bằng giọng Gregorian là một cảm giác kỳ thú, lâng lâng khó tả.

(còn tiếp 1 kỳ)
Hạ Ngôn