- Đăng ngày 16 Tháng 10 2011
- Lượt xem: 2384
Tôi theo học trường Lasan của các frère từ những năm còn nhỏ, hình như từ lớp Ba thì phải, với thầy Nhàn. Lớp Ba là lớp nhỏ nhất khi ngôi trường còn nằm bên hông nhà thờ Chánh tòa Qui nhơn. Bạn bè từ thuở đó đến nay đếm ra chỉ còn vài chục. Và thật tình cờ, tôi bắt được liên lạc với bọn nó cũng khoảng mấy tháng nay . Chuyển lên trung học, trường Lasan dời về ngay ngã tư đi Ghềnh Ráng và khu Sáu. Tôi cũng miệt mài đèn sách như bạn bè khác. Xong Tú Tài II, không hiểu sao tôi quyết định nhập ngũ chứ không học tiếp. Có nhiều lý do khiến tôi quyết định nhập ngũ nhưng có lẽ nguyên do chính là tôi cảm thấy mình không có duyên với đèn sách. Cái nghiệp lều chõng trải qua hai lần Tú Tài đã làm tôi ngán ngẫm. Vả lại, thời đó biết bao thanh niên lên đường nhập ngũ nên quyết định của tôi cũng chẳng có gì đặc biệt.
Sau hơn mười tháng huấn luyện, tôi ra trường với cấp bực Chuẩn Úy. Cứ tưởng cuộc đời quân ngũ của tôi sẽ tiếp tục như nước theo dòng chứ nào ngờ biến cố thống nhất đất nước đã đẩy tôi vào một khúc quanh định mệnh. Gia đình tôi vốn không dư dả gì, một gia đình đông con nên sau ngày lịch sử đó, tình trạng kinh tế gia đình tôi sa sút trầm trọng. Vì là sĩ quan trong chế độ cũ nên tôi phải khăn gói lên đường đi học tập như những quân nhân khác, để lại cha mẹ già và một đàn em nheo nhóc.
Hơn 3 năm ở trại cải tạo, bao nhiêu khổ cực tôi không cần phải kể lại. Người đi tù thì đã tỏ, người ở nhà cũng đã tường. Niềm tin vào Thiên Chúa đã giúp tôi đứng vững chãi trên những đọa đày. Vả lại, tôi luôn lạc quan hướng về tương lai nên khoảng thời gian ba năm vụt qua như bóng câu. Tôi trở về trong tình trạng đói kém cả nước và tình trạng gia đình tôi lại càng tệ hại hơn bao giờ. Tôi là con trai cả trong gia đình nhưng cảm thấy bất lực trước thời thế. Nghe phong thanh gia đình một người bạn chuyển vào Long Giao, Xuân Lộc; tôi lận trong người 2 chỉ vàng của mẹ tôi (một gia tài khá lớn vào thời đó) mầy mò tìm đường đi kiếm sống. Bạn bè tôi có đứa ở Phú Phong, ở Chợ Dinh nên chúng nó thích nghi với môi trường mới khá dễ dàng vì là vùng nông thôn. Gia đình tôi không có một miếng đất ở vùng quê thì làm sao biết canh tác. Cha mẹ tôi có khuyên can tôi kiếm một việc nào đó gần gần nhưng vào thời đó, ở Qui Nhơn thật sự tôi không biết phải làm gì để giúp gia đình. Chi bằng tự mình tự lập lấy thân, và biết đâu cơ may lại giúp tôi dành dụm được chút ít biếu lại cha mẹ già. Vì thế, tôi tạ lỗi với cha mẹ tôi và quyết tâm lên đường vào Nam.
Đến Long Giao, tôi gặp lại cha mẹ người bạn thân. Bạn tôi không có nhà vì nó theo đoàn tàu di tản đúng ngày 30 tháng 4. Hiểu hoàn cảnh của tôi, cha mẹ người bạn giúp tôi vào hộ khẩu địa phương với tên họ hoàn toàn mới. Một cái tên mà mãi mấy tháng sau tôi vẫn còn ngờ ngợ. Bỏ ra một chỉ vàng để có một lý lịch mới tại một địa phương xa lạ để yên ổn kiếm sống là một điều may mắn. Thật không ngờ may mắn này lại là một trắc trở về sau, đúng như câu thơ của Nguyễn đình Toàn, “có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai.” Thiên tai là chuyện về sau, còn lúc bấy giờ tôi thật sự bằng lòng với cuộc sống mới. Cuộc sống hứa hẹn một khởi đầu, một hạnh thông mà lâu lắm rồi tôi chưa được nếm lại mùi vị. Còn lại chỉ vàng cuối cùng tôi mua được cái chòi gần bìa ruộng và chiếc xe đạp. Lúc còn nhỏ, tôi có đọc truyện “Túp lều của chú Tom” của Harriet Stowe và tưởng tượng đến cuộc sống của những kẻ nô lệ da đen. Nơi ở của chú Tom đơn giản, sơ sài, trống rỗng nên được gọi là túp lều (nguyên bản là cabin) chứ không thể là một căn nhà hoặc căn phòng. Tôi mỉm cười với ý nghĩ ngộ nghĩnh rằng truyện và thực tại gần giống nhau khi nhìn quanh cái chòi tôi vừa mua được. Mái tranh, vách đất đắp lỗ chỗ nằm chơ vơ sát bìa ruộng, nơi chủ ruộng đặt lưng nghỉ ngơi vào buổi trưa trên chiếc chõng tre gập ghềnh. Họ không cần nữa nên để rẻ lại cho tôi. Hơn nữa có tôi ngủ ở đó ban đêm cũng giúp ông giữ thửa ruộng hoa màu. Tôi kiếm thêm chiếc bàn gỗ xộc xệch kê sát góc. Mấy chiếc đinh rỉ sét đóng tạm trên thanh gỗ làm móc treo quần áo. Mỗi tối, tôi về đây ngả lưng sau một ngày mệt nhọc đạp xe kiếm sống. Không phải đạp xe thồ hàng, mà là đạp xe bán hàng rong.
Đó là nghề mới của tôi. Chỉ vàng cuối cùng tôi nói ở trên dùng để mua căn chòi và chiếc xe đạp. Dư lại chút tiền tôi đến chợ mua trái cây như ổi, cóc, xoài, chùm ruột… treo hết lên ghi đông và đạp xe bán dạo quanh làng xóm. Mỗi ngày dưới ánh nắng chang chang của vùng đất đỏ, tôi đạp xe rong ruổi qua biết bao nhiêu đường phố, gò lưng trên chiếc xe đạp cọc cạch đi sâu vào xóm làng bán hàng rong cho nông dân. Mấy cái quần vải lính thấm mồ hôi, mưa nắng cũng bạc màu theo thời gian, sờn đầu gối rồi rách lỗ. Mấy năm đạp xe bán dạo quần áo tôi rách bươn vì ướt đẫm mồ hôi, lại ít giặt giũ. Vá đi vá lại, vá chằng vá đụp cũng chỉ thêm vài tháng. Cái nón vải theo tôi lấm bụi đường đỏ quạnh. Đôi dép cao su tôi thay không biết bao nhiêu lần. Có thời gian tôi treo hẳn đôi dép lên chiếc ghi-đông để tiết kiệm một món tiền chi tiêu. Bàn chân tôi chai cứng sau những ngày ghè chân lên hai bàn đạp bằng sắt. Mấy ngày đầu thì đau thốn không chịu được nhưng mãi rồi gan bàn chân mất hết cảm giác. Khi gan bàn chân tôi bắt đầu chai cứng là lúc “con ngựa sắt” của tôi đã rong ruổi hầu hết những đường mòn của làng xóm quanh Long Giao, Cẩm Mỹ...
Sau này, để kiếm thêm chút lời tôi đóng thêm một hộp gỗ có nắp ở phía sau để chở hàng, vừa kẹo bánh, vừa đồ ăn vặt, cả vật dụng cần thiết trong gia đình như xà phòng, bàn chải, kem đánh răng, dép nhựa, kim, chỉ… Con ngựa sắt của tôi gồng mình chuyên chở như một quán chạp phô lưu động. Từng ấy đủ cho tôi kiếm được hai bữa ăn, tối về ngả lưng trên chiếc chõng tre xộc xệch và đôi lúc chợt thấy ngậm ngùi cho thân phận làm người. Tuy vậy, tôi vẫn cảm thấy hạnh phúc vì kiếm sống bằng chính mồ hôi của mình. Tôi đổ mồ hôi nhưng chưa bao giờ rơi nước mắt vì khổ cực. Thời gian đó, chung quanh tôi biết bao cảnh nghèo khổ nên cuộc đời tôi cũng chỉ là một đường nét trên bức tranh hiện thực của xã hội Việt nam lúc bấy giờ.
Có lần tôi không nhớ rõ ai mách cho tôi biết là mấy thằng bạn Lasan cũng đang sống bằng nghề nông ở Long khánh. Tôi nhớ thằng Phùng, bạn suốt thời trung học. Quê nó ở Phù Mỹ nhưng lại không về nguyên quán làm ruộng mà lại lạc về vùng đất đỏ. Tôi bỗng có ý định đến thăm nó một lần. Từ Long Giao đến nó dễ chừng hơn 20 cây số. Quanh quẩn bán hàng ở vùng Long Giao, Cẩm Mỹ, Cẩm Đường... cũng giới hạn vì những vật dụng trong gia đình như kem đánh răng, xà phòng nếu xài phung phí thì cũng phải đến cả tháng mới hết. Vì thế, nghề bán dạo của tôi mỗi ngày phải rong ruổi càng xa đến những làng mạc xa xôi để kiếm khách. Cũng một lần đạp xa nên một ngày đẹp trời, bi-đông và đôi dép nhựa treo lên ghi-đông, tôi quyết định đi tìm thằng bạn cũ.
Đoạn đường từ nhà tôi ở đến thị trấn Long khánh đã xa lắm rồi. Tôi gò lưng trên chiếc xe đạp, đến chỗ đông người tôi đều ghé vừa nghỉ mệt vừa bán hàng. Đói, tấp vào mấy hàng quán bên đường mua đĩa cơm dằn bụng và… đạp tiếp. Đến Long khánh, qua mấy họ đạo Bảo Định, Bảo Toàn với ngôi nhà thờ trét vôi bạc thếch nằm sát quốc lộ im lìm mệt mỏi trong cái nắng xế trưa. Lửa rải tràn trên lớp đường tung bụi đỏ mịt mù Tôi ghé vào nhà dân chúng dọc theo quốc lộ xin nước đổ đầy bình bi-đông không biết bao nhiêu lần. Cái khát át cái đói. Lại phải đạp thêm mấy cây số nữa mới đến họ đạo nơi thằng Phùng đang sinh sống. Cuối cùng tôi dừng xe ngay trước ngôi nhà thờ xã. Hỏi han mãi người ta mới chỉ cho tôi căn nhà tranh của cha mẹ Phùng.
Tôi bước đến căn nhà của Phùng trời đã xế chiều. Nhà ở thôn quê san sát nhưng căn nhà của Phùng năm trơ trọi giữa cánh đồng, cách quốc lộ không xa. Hàng xóm tuy nhìn thấy mái tranh nhưng cũng hơn một quãng ném hòn đá, gọi nhau chưa chắc đã nghe. Mấy đứa em Phùng đi học về phụ gia đình làm cỏ trên cánh đồng bên cạnh. Thấy tôi, chúng bước lại hỏi thăm. Nghe tôi nói bạn của thằng anh, đứa em gái dẫn tôi vào nhà giới thiệu với bà mẹ đang nằm bệt trên chiếc chõng tre. Bà mẹ bệnh tật không nhận ra tôi, chỉ ừ hử nói ngồi chờ cha con đi rẫy sắp về. Mấy đứa em gái lại ra vườn tiếp tục công việc, bỏ mặc tôi ngồi trước hiên nhà chờ bạn. Nắng tắt lịm để lại một vùng đỏ ối ở đồi Tây. Không gian như ngừng đọng khi chiều buông. Lác đác trên đường đê nông dân cuốc trên vai cắm cúi bước, dăm con bò chậm rãi theo chân chủ về chuồng. Người và vật mệt nhọc trở về nhà sau một ngày vất vả đổ mồ hôi. Ít ra họ có một chỗ để về khi màn đêm phủ kín núi đồi. Hôm đó, ngồi nhìn nắng chiều tắt dần sau ngọn đồi, lòng tôi bỗng chùng xuống nặng trĩu khi ngẫm nghĩ về bạn bè, về tương lai. Tiếng chim kêu lạc bầy bay ngang đầu nghe ai oán như than trách một vận số không may. Riêng tôi may mắn tìm được nhà thằng bạn sau một ngày đạp xe trên đoạn đường dài.
Phùng nhận ngay ra tôi khi bước vào sân nhà. Chúng tôi bặt tin nhau từ lâu lắm, hình như lúc hai đứa đi lính, mỗi đứa mỗi ngả theo vận nước nổi trôi. Vậy mà chúng tôi vẫn nhận ra nhau. Phùng không ngờ tôi đạp xe từ Long Giao đến thăm nó. Chào hỏi bác trai, người đàn ông trông hom hem và ốm yếu vì lao lực, tôi chỉ còn thấy một vài nét quen thuộc còn sót lại trên khuôn mặt sau từng ấy năm. Phùng cũng ốm đi nhiều lắm, nước da đen cháy. Hai cha con cùng một màu nắng. Tôi ra giếng tắm rửa và tối hôm đó ăn một bữa cơm dưa cà với gia đình Phùng. Bác gái bệnh tật, chỉ ăn được cháo, sức khỏe mòn dần với thời gian. Phùng chép miệng bảo tôi không biết khi nào Chúa gọi về. Tôi chẳng biết nói gì với Phùng. Số mệnh nào cũng thế, một lần rời khỏi trần gian này để đi về miền viên miễn. Thôi, chỉ biết phó thác, tôi nói với Phùng.
Cơm nước xong, chúng tôi kéo nhau ra hàng hiên ngồi hút thuốc lào. Màn đêm đen kịt, đóm đóm lập lòe ở cánh đồng trước mặt. Ở vùng quê, cứ cơm nước xong là đã muốn đi nằm vì điện đóm thời đó chưa có nên đường sá tối om, hơn nữa phải dậy thật sớm ngày hôm sau nên chẳng ai muốn thức khuya; vả lại cả một ngày làm việc mệt nhọc nên ai cũng cần nghỉ ngơi. Mọi ngưỡi trong gia đình Phùng đã ngả lưng chập chờn trong giấc ngủ trừ chúng tôi ngồi nói chuyện vu vơ về thời Lasan, từ năm đệ thất cho đến lúc lớn lên rồi mỗi đứa một ngả như định mệnh sắp sẵn cho mỗi số phận. Những lần kéo nhau ra bãi biển chơi đùa, có thằng tuột quần dài cả quần đùi tồng ngồng tắm. Tôi bật cười khi nghĩ đến mấy thằng nhóc con dậy thì trễ, tắm truồng mà chẳng biết ngượng ngùng gì. Tiếng cười nói sảng khoái của chúng tôi vang vọng trong đêm khuya tĩnh mịch rồi mất hút ở cánh đồng bắp trước mặt. Tôi nhớ đến vài lần đi cắm trại ở Cù lao xanh. Có lúc kéo nhau qua Hải Minh tắm cả ngày rồi đi thuyền về lại Qui nhơn. Mùa hè rộng cẳng tha hồ chạy nhảy thỏa thuê suốt mấy tháng trời. Tuổi thơ sao dễ thương thế, cứ vui chơi, học hành, để mặc thời gian trôi mà chẳng thấy nuối tiếc gì. Đêm nay ngồi với Phùng, tôi chợt thấy tiếc nuối một thời hồn nhiên, đầy vô tư tuổi thơ với bạn bè Lasan cũ.
Phùng nhớ tên vài thằng bạn, trong đó có Bạch. Nó bảo mày có biết gia đình thằng Bạch ở xứ Bảo Toàn cách đây mấy cây số không. Tôi nói tao có nghe nhưng không biết nó có ở nhà không. Phùng chép miệng bảo thằng Bạch đã vượt biển rồi; theo lời thằng em của nó kể lại; tao còn nghe đâu cả chục đứa khác đã định cư ở Úc, ở Mỹ, Canada… và chắc chắn cuộc sống của bọn nó phải khá hơn tao với mày; cũng có thằng bỏ sách vở lên thành phố làm ăn sinh sống, đủ trả nợ cơm áo hằng ngày, chứ đâu như tao và mày chạy về vùng quê, chật vật mà không đủ miếng ăn. Tôi nhìn mông ra vũng tối trước mặt, chợt nghĩ đến tương lai của hai đứa tôi và buột miệng, “Tao nghĩ trong đám bạn bè Lasan chỉ có tao và mày là khổ cực nhất.” Đêm khuya, tiếng ếch nhái vẳng lên từ ngoài bìa ruộng quyện với tiếng côn trùng quanh căn nhà tranh tạo thành một khúc nhạc đơn điệu nhưng làm lòng người chùng xuống nao nao khó tả. Trộn lẫn trong điệu nhạc buồn tênh đó, tôi thoáng nghe tiếng thở dài khe khẽ của Phùng.
Ngày hôm sau tôi trở về nhà rồi chẳng bao giờ gặp lại thằng bạn vì quá bận rộn kiếm sống. Chiếc xe đạp làm bạn với tôi thêm một hai năm nữa rồi nghỉ hưu. Khi mua lại, nó đã xấu xa cũ kỹ lắm rồi. Sau bao nhiêu lần thay da đổi thịt (thật ra là thay vỏ, thay lốp, thay sên…) nó cố làm tròn bổn phận của một đầy tớ trung kiên. Nhờ nó mà tôi cũng dành dụm được một số tiền, không nhiều, nhưng đủ để tôi bỏ nghề bán hàng rong. Ngày tôi bắt đầu đi làm thuê là lúc chiếc xe đạp già nua sụm luôn (gãy đòn ngang) không gượng dậy nổi nữa. Chẳng hiểu nó biết tôi quyết định bỏ nghề nên xin nghỉ hưu hoặc vì nó sụm nên tôi dứt khoát bỏ nghề. Trong niềm biết ơn người, biết ơn đời, tôi cám ơn chiếc xe đạp già yếu đã trung thành nhẫn nại theo tôi đi khắp vùng Xuân Lộc, Đồng nai, từ thuở ra đời lập nghiệp. Rong ruổi trên những con đường làng, hầu hết dân chúng trong họ đạo biết tôi. Họ thấy tôi độc thân, hiền lành, chăm chỉ làm ăn nên họ thương, kiếm việc cho tôi làm. Tôi làm công bất cứ việc gì: từ lợp nhà, làm vách, đóng chuồng heo đến việc đồng áng, tôi làm tuốt. Tôi không nề hà bất cứ việc gì, miễn là kiếm được đồng tiền lương thiện. Tôi đã gửi về giúp cha mẹ tôi bằng chính đồng tiền kiếm được từ mồ hôi của chính mình. Cứ thế, làm công ký cóp từng đồng, chừng hơn năm tôi mua được sào ruộng và xây lại cái chòi thành một mái nhà tranh rộng hơn trước nhiều.
Các cụ trong họ đạo thương tôi xem tôi như con. Rồi mai mối, giới thiệu qua lại để cuối cùng có một cô gái thương tôi. Tôi cắm cúi làm công không dám để ý đến ai vì hoàn cảnh nghèo hèn của tôi. Hơn nữa, trách nhiệm của một thằng con trai trưởng đối với đàn em và cha mẹ già khiến tôi không dám nghĩ đến việc lập đình. Tôi chỉ ước mong có việc làm mướn hoài, dành dụm được nhiều tiền để giúp cha mẹ tôi đang bước vào tuổi già. Nhưng có ai ngờ cuộc đời tôi lại bước sang một khúc quanh khác, cũng quan trọng không kém, khi có người mai mối đánh tiếng cho tôi gặp nàng.
Trai gái lớn lên đến tuổi rồi cũng lập gia đình. Định luật tự nhiên của trời đất. Trong Kinh thánh cũng nói rõ, “đàn ông nên có vợ vì ở một mình không tốt.” Tôi ở một mình đã khá lâu, đến lúc gặp nhà tôi và biết nàng có ý thương tôi, tôi chấp nhận ngay không lưỡng lự suy tính gì. Đời tôi khi lớn lên có va chạm một vài cuộc tình vội vã, tôi không dám nói đó là tình yêu. Trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh lúc đó, có người lính nào dám thề non hẹn biển với người yêu khi luôn thấy một tương lại đầy bất trắc. Gặp nhau chỉ biết hiện tại. Nếu có yêu nhau thì cũng yêu nhau lúc đó, biết lúc tay trong tay, môi kề môi rồi chia tay. Vì có thể lần đó là lần cuối không chừng vì ngày mai người lính ra trận và trở về với hòm gỗ cài hoa, để lại người tình (không dám nói là người yêu) nức nở với vành khăn sô trắng tinh như mối tình vừa chớm nụ. Cho đến lúc gặp nàng, tôi chấp nhận mối tình của nàng nhưng không biết chắc có phải là tình yêu hay không. Chúng tôi lấy nhau không có thời gian hẹn hò, thề non hẹn biển như trong tiểu thuyết. Cũng chẳng đắm đuối, đam mê, mụ người vì tình như trong phim ảnh Hồ-ly-vọng. Đành rằng nàng thương tôi nhưng con gái lớn lên ở một họ đạo, truyền thống ràng buộc nhiều hơn là mơ mộng một hoàng tử của lòng em. Con gái lớn lên phải lấy chồng, lấy để mấy đứa em gái mới có dịp lấy chồng như chị. Tuy con tim cũng rung động, cũng bẽn lẽn, cũng thẹn thùng nhưng hình như chúng tôi lấy nhau vì hai chữ bổn phận nhiều hơn.
Bây giờ ngồi đây viết lại những dòng chữ này, tôi lại thấy tình yêu bàng bạc trong đời sống vợ chồng. Tình yêu hiện hữu khi chia nhau bát cơm, quả cà dưa muối. Tình yêu hân hoan khi cùng nằm trên chiếc chõng tre và nghe tiếng gió lùa qua cánh cửa liếp. Tôi trân quý biết ơn vợ tôi, nhất là thời gian vợ tôi ở nhà một mình nuôi đứa con gái. Nàng đã đến với tôi trong lúc tôi nghèo khó, một thằng làm công trong làng. Nếu ngày xưa có ông Trạng nguyên từ chối không lấy công chúa sau khi đỗ đạt để trọn tình với người vợ từ thuở hàn vi, thời “Trăng Sáng Vườn Chè”, nàng chắt chiu cho chàng ăn học thì tôi cũng thề xin trọn tình trọn nghĩa với người vợ đã bước đi bên tôi trong suốt 30 năm dài.
Chúng tôi cố gắng làm tròn bổn phận của cha mẹ với hai đứa con, nhất là thời gian vợ chồng mỗi đứa một nơi. Sở dĩ có tình huống này là vì tôi vượt biển với đứa con trai mới chưa được 6 tuổi và vợ tôi ở nhà với đứa con gái 2 tuổi. Gia cảnh không cho phép tôi vượt thoát cả gia đình mà đành phải chia đôi như Lạc Long Quân và Âu Cơ dẫn con cái lên rừng và xuống biển. Lòng quảng đại của những quốc gia mở rộng vòng tay đón nhận người tỵ nạn có giới hạn. Giới hạn đó là ngày Liên hiệp quốc quyết định chấm dứt chương trình tỵ nạn Đông dương, ngày 19 tháng 3 năm 1989. Cha con tôi đến trại tỵ nạn Galang, Indonesia ngày 29 tháng 6 năm 1989, hơn ba tháng sau quyết định chết người đó. Chúng tôi bi thanh lọc và đánh rớt, nằm trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan, ở không ai nhận, về lại cũng không xong. Chờ đợi lòng thương xót của các nước thứ ba, đôi lúc tôi tự hỏi cuộc đời của cha con tôi sao lại long đong đến thế, chỉ cách nhau có hơn ba tháng mà số phận lại hoàn toàn khác hẳn. Ở trại, nghe có chương trình HO của chính phủ Mỹ (1992), tôi lại càng chán nản. Giá tôi đừng vượt biển thì giờ này tôi nộp giấy tờ và cả gia đình ra đi chính thức, nghĩa là cả vợ lẫn con cái chứ đâu phải rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan như bây giờ.
Thế nhưng, hơn lúc nào hết, tôi vẫn vững tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Niềm tin đã giúp tôi sống lây lất ở trại tỵ nạn thêm gần 7 năm nữa. Thằng con tôi lúc ra đi mới hơn năm tuổi, giờ đã mười hai. Nó phải cắp sách đến lớp học từ lớp Một cho đến lớp Sáu, với chương trình giáo dục nửa nạc nửa mỡ vá víu ở trại. Đây là giai đoạn dằng co giữa dân tỵ nạn và Cao ủy. Họ dứt khoát không về. Cao ủy lại không nỡ đẩy đồng bào trở về, đi ngược lại ý muốn của họ. Đúng ra, Cao ủy tỵ nạn có gặp riêng tôi và bàn với tôi rằng nên trở về và nạp đơn vào chương trình HO để ra đi chính thức. Trong khi tôi đang phân vân thì một số đồng bào nản chí vì chờ đợi quá lâu nên quyết định hồi hương. Trại tỵ nạn thưa thớt dần. Đến thời điểm cả trại chỉ còn chừng nghìn rưởi thì tôi quýnh lên vì biết chắc với số người ít oi như thế, Cao ủy sẽ dùng biện pháp mạnh. Nghĩa là dù muốn hay không, họ sẽ đóng cửa trại và cha con tôi chỉ có một con đường duy nhất: về lại Việt nam.
Và đây là “thiên tai” mà tôi nói ngay từ đầu. Niềm vui khi có tên họ mới mười mấy năm trước để bắt đầu một cuộc sống mới bây giờ mới trở thành cái họa khôn lường. Chỉ vì chương trình HO cho phép định cư cả gia đình nên tôi bằng lòng về nhưng lại kẹt cái đổi tên họ khi mới đến Long Giao. Giấy chứng nhận cải tạo (luật phải ở tù tối thiểu 3 năm mới hưởng chương trình HO) của tôi ghi rõ tên họ cũ. Đến Trại tỵ nạn, tôi vẫn dùng tên cũ trước năm 1975, nhưng nay phải hồi hương về Việt Nam thì tôi phải khai báo với tên tuổi nào đây để đi định cư theo diện H.O. “Dĩ nhiên là phải giữ tên cũ”, nhưng làm sao trả lời với Phái Đòan VN với tội khai man? Đối với chính quyền Việt nam, khai man tên họ là một trọng tội. Vì trọng tội, họ có thể giữ hồ sơ và truy tố tôi ra tòa. Thật không ngờ, cuộc đời tôi lại rơi vào những tình huống dở khóc dở cười như thế. Càng suy nghĩ, càng rối trí và tôi ngơ ngẩn cả tuần không biết phải giải quyết thế nào.
Sau nhiều ngày suy nghĩ, tôi gặp riêng Cao ủy và thú thật hết mọi chuyện. Ông trưởng Cao ủy hứa với tôi sẽ can thiệp với chính phủ Mỹ và Việt Nam để tôi ra đi. Và cuối cùng tôi đồng ý dẫn đứa con trai quay trở lại Việt nam. Đó là năm 1996. Những rắc rối vì khai man tên họ với chính quyền VN tôi đã tiên liệu trước nên khi xảy ra tôi không ngạc nhiên lắm. Những việc tôi làm ở trại với tư cách là Hội Trưởng Hội Cựu quân nhân và Hướng Đạo tôi đều khai báo rành mạch vì tôi biết không thể dấu diếm được (những người hồi hương trước đây đã báo cáo hết mọi hành động của tôi ở trại). Những đối đáp cũng khá gay cấn nhưng tôi cứ tình thật mà khai. Nhưng có một câu hỏi mà tôi đã lường trước có thể xảy ra là “Anh hồi hương và còn ý định đi đinh cư ở Mỹ nữa không?” Tuy đã tiên liệu nhưng không biết phải trả lời thế nào cho ổn thỏa, và sự thật đã xảy ra. Anh công an, một người trông khá trí thức, ăn nói rất lịch sự hỏi tôi câu sau cùng sau 5 tiếng đồng hồ phỏng vấn: Anh có ý định ra đi nữa không? Xem ra câu hỏi này bình thường nhưng rơi vào trường hợp tôi lại đâm ra khó xử chỉ vì tôi dứt khoát sẽ nộp đơn chương trình HO để đưa cả gia đình ra đi. Trả lời “không” xem ra không ổn vì sai sự thật, trả lời “sẽ” cũng không xong vì vừa bị trả về nước mang tội vượt biển lại thêm tội khai man lý lịch với tư tưởng luôn muốn bỏ nước ra đi. Tôi nhớ trong Kinh thánh cũng có một chuyện tương tự khi bọn biệt phái đưa một người đàn bà phạm tội ngoại tình đến hỏi Đức Giêsu, “theo ông có nên ném đá người đàn bà này không?” Luật Do-thái thời đó người phạm tội ngoại tình phải bị ném đá cho đến chết. Trả lời “nên” thì đi ngược lại luật yêu thương mà Đức Giêsu đang rao giảng. Trả lời “không” thì đi ngược lại luật Maisen của dân Do-thái. Một câu hỏi độc địa mà cách trả lời nào cũng chết, cũng bị kết tội. Lúc ở trại, tôi đã lường trước câu hỏi này nhưng tôi không tìm ra được một câu trả lời nào thỏa đáng. Thế mà hôm đó, tôi lại bật ra câu trả lời trôi chảy, tự nhiên, không hề lưỡng lự. “Tôi sẽ không bao giờ đi vượt biển nữa nhưng nếu chính phủ Mỹ chấp thuận tôi sẽ ra đi theo chương trình HO.” Anh công an gật gù chấp nhận câu trả lời thành thật của tôi. Nếu câu trả lời của Chúa Giêsu hơn 2000 năm trước, “nếu trong các ông ai là người vô tội thì hãy ném đá người đàn bà này trước đi” đã làm bẽ mặt bọn biệt phái thì câu trả lời của tôi ngày hôm đó cũng tạm vừa lòng sở công an.
Tuy bên công an bằng lòng với những câu trả lời và sự hợp tác chân tình của tôi nhưng họ vẫn mời tôi lên làm việc nhiều lần. Như tôi đã liệu, tội khai man lý lịch không dễ gì chính quyền bỏ qua. Chính quyền xã, huyện, tỉnh thay phiên gửi giấy mời tôi đến văn phòng để thẩm vấn. Cũng từng đó câu hỏi, cũng từng ấy lời khai và đi đi về về mỗi ngày được chừng ba tuần tôi thật sự ngấy. Tôi chán nản vì từ ngày hồi hương đến nay không có thời giờ làm bất cứ việc gì kiếm tiền nuôi gia đình chỉ vì phải trình diện chính quyền liên tục. Sau cùng, tôi lên Sàigòn cố tìm gặp cho được ông Cao ủy Trưởng. Thân phận như tôi lọt được vào cổng Văn Phòng Cao Ủy đã là một kỳ công. Xin gặp đúng ông Cao ủy Trưởng lại thêm một may mắn khác. Những may mắn đó tôi nhìn dưới con mắt đức tin và thầm tạ ơn Chúa. Sau khi nghe tôi trình bày cặn kẽ sự việc, ông hứa sẽ can thiệp với bộ Nội vụ để chấm dứt ngay tình trạng quấy rối ở cấp xã, huyện, và kể cả tỉnh. Chẳng biết ông làm thế nào mà từ đó cho đến ngày tôi đi định cư, tôi không hề nhận được một giấy mời nào cả. Tôi yên ổn làm lụng sinh sống nuôi gia đình cho đến ngày 27 tháng 2 năm 1997, gia đình tôi lên máy bay và bắt đầu một cuộc sống mới tại Hoa kỳ, quốc gia đã mở rộng vòng tay nhân ái đón nhận gia đình tôi lúc tôi đã bước hơn nửa đời người.
Ôn lại quãng đường gần 60 năm, trải qua biết bao nhiêu thăng trầm trong cuộc sống, tôi nhìn cuộc đời này với ánh mắt bao dung hơn. Tôi có thở dài nghĩ về những trắc trở, đọa đầy nhưng lòng tôi lại rộn ràng thấy những hạnh thông nhiều hơn. Đã có lúc tôi tưởng tôi buông xuôi, thế mà tôi cảm nhận được một lực vô hình vực tôi dậy, dìu tôi đi. Tôi cảm tạ Chúa đã nâng đỡ tôi những lúc như thế. Đời sống cô đơn thui thủi một mình bỗng nở hoa vì có người thẹn thùng chia sẻ ngọt bùi với tôi. Đường đời của chúng tôi không bằng phẳng, nếu không nói lắm gập ghềnh, nhưng chúng tôi có nhau, tay trong tay cùng nhìn về phía trước. Gần 30 năm đi bên nhau gọi là chung thủy. Đoạn đường dài như thế gọi là nghĩa tào khang. Tôi cám ơn nhà tôi đã nhẫn nhục hy sinh. Tôi thường nghĩ đến bạn bè Lasan mỗi khi có dịp, nhất là Phùng, và tiếc nuối mình không có nhiều để giúp nó. Tình bạn nồng nàn giúp tôi thấy lòng ấm áp hơn, nhất là gần đây bắt liên lạc với hơn chục đứa bạn cũ thời Lasan.
Xin cám ơn đời. Xin cám ơn người. Xin cám ơn bạn bè. Và xin cảm tạ hồng ân Thiên Chúa.
Trương Ngọc Bích