Trời tháng 11 bỗng trở lạnh bất ngờ. Chỉ mới tuần trước, thời tiết còn thay đổi thất thường, khi ấm, khi lạnh nhưng không đến nỗi lạnh buốt như bây giờ. Buổi sáng đi làm tôi phải mặc chiếc áo ấm dày cộm, bên trong cũng hai lớp áo để tránh cơn gió Thu len vào da thịt gây buốt giá đến rùng mình. Năm ngoái thời tiết đến rõ ràng, trời lạnh dần lên nên cơ thể thích ứng dễ dàng. Năm nay cái lạnh sắt se đến đột ngột khiến tôi phải buột miệng trách ông Trời. Nhà tôi bảo chẳng phải thời tiết mà vì sức khỏe của bố yếu dần. Già rồi, nhớ liệu lấy thân. Năm nay chắc chắn yếu hơn năm ngoái nên bố phải cẩn thận hơn, nàng bảo tôi thế.

Có lẽ nhà tôi nói đúng. Sức khỏe của tôi kém dần thật. Hai tai lạnh buốt về đêm, phải mặc áo trùm đầu. Trong khi hai đứa con trai tôi cứ mặc phong phanh đi học, khiến tôi phải dặn dè chừng. Vậy mà thân thể chúng vẫn trơ trơ như đá vững như đồng. Nhìn chúng mới biết tuổi mình không còn trẻ nữa. Măng lớn lên là dấu hiệu của tre đang già. Tôi và bạn bè Lasan cùng chung một số phận.

Đám bạn bè giờ biết ra sao
Kẻ lây lất quê nhà lận đận
Người đáy biển mồ hoang mả lạnh
Giấc mộng đời theo bóng thiên di

Thơ Trần trung Đạo (Nhớ Bạn)

Sở dĩ tôi nói đến số phận vì gần đây bắt liên lạc được thêm năm sáu thằng bạn cũ. Nào QPhương, Bình, Khối, Phú, CKhiêm, Huynh, Trí… Chúng tôi cũng biết thêm một số bạn đã mất (Phi Hùng, Minh). Những đứa còn sống đã trở thành tre già hết. Có tre trông vẫn cứng cáp phong độ với mái tóc bạc phơ, có tre oằn lưng xác xơ nhưng vẫn sống vững chãi. Có tre tư lự êm ả đón gió chiều như thuở nào, có tre vẫn lao xao bương chải như xưa. Gặp lại mỗi đứa bạn là thấy nguyên một vùng trời ở Lasan lãng đãng trong trí nhớ. Đám tre tuy già nhưng tôi vẫn nhận ra gốc cội (nhờ skype) từ khuôn mặt cho dù khắc khổ, từ nụ cười sảng khoái đến giọng nói khàn đục vẫn còn mang âm hưởng một thời ngồi thảnh thơi trong lớp học.

Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ, nên thành tre ơi
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù cát sỏi đá vôi bạc màu

Thơ Nguyễn Duy (Tre)

Nhờ liên lạc với nhau mà 2 đứa bạn tôi mới nhận ra ở cách nhau không xa. Một đứa ở đầu làng, một đứa cuối. Hai đứa cùng nhau trấn giữ một đoạn đường quốc lộ dài 15 cây số, chỉ cách nhau mấy xã. Vậy mà bọn nó không hề biết nhau. Một đứa lên đường quyết chí vào rừng làm rẫy năm 76, đứa kia bỏ nghiệp nhà giáo đưa vợ con về khai khẩn đất hoang năm 80. Nếu anh lính thú ngày xưa ra đi với ý chí “ba năm trấn thủ lưu đồn” rồi mới về nhà gặp mặt vợ con thì hai người bạn tôi phải đợi đến ba mươi mốt năm rõng rã mới nắm được tay nhau, mới có dịp ngồi khề khà bên chung rượu. Thật đúng là:

Ở Lộc Châu, ba mươi năm
Ngày thì canh tác tối nằm ôm sương
Phận nhà giáo, luống đoạn trường
Tháng năm giữ vững cương thường ở tâm
Đêm đêm khơi bấc đèn dầu
Đem soi chợt thấy lương tâm vẫn còn


Minh ở Đức gửi cho tôi một đoản bút của bạn tôi – Phan Khối – với bút hiệu Phan Lạc Dân. Gửi Em… Gò Môn. Bài viết như một lời nhắn nhủ với một cô giáo trẻ về bộ giáo án mới toanh soạn để dạy cho các em học sinh. Chữ nghĩa bạn tôi dùng thật phóng túng trong bài viết. Những ý nghĩ quay cuồng đẻ ra những dòng chữ thật bất ngờ.

“Nhắc đến cái sự “trùng trùng đẳng tặc” anh bỗng muốn phá lên cười tràn vì vui. Cười thốc tháo, cười ói mật, cười lộn ruột gập người co giật, cười đứt hơi ngửa mặt, cho đôi mắt được trừng mơ dõi thấu cao xanh…”

Tôi thoáng thấy cái thái độ khinh khỉnh của bạn tôi khi nhìn những sự kiện xảy ra trong xã hội.

Nếu gom hết thảy cánh tặc đó lại lập thành một nước nho nhỏ, thì trong cái “tặc quốc” hiên ngang tự chủ ấy nên bầu cha nào đứng đầu?! Là thủ lĩnh, đầu sỏ, là trùm, là bố già (kiểu ma-phi-a!)… để thống quản trên toàn “tặc thổ”?! Em có nghĩ ra không chứ anh thì chịu chết, chỉ dự cảm mơ màng rằng – Trên cõi đời này, cuộc sống này, cốt tử là niềm tin. Niềm tin em ạ! Nếu một khi niềm tin bị đổ tháo, rữa rụng (một lần bất tín…) thì mọi thứ tan hoang. Một bãi hỗn loạn kinh hoàng không cách chi chỉnh đốn chiêu phục được… Chỉ có một cách duy nhất – Lấy lại lòng tin, bằng hành động, không chỉ dùng mồm – Cảnh giác tuyệt đối với bệnh lở mồm! – Đồng thời theo phương châm “dĩ độc trị độc”. Phải có một người rạng ngời chính khí, vòi vọi oai linh như ngài Khuất Nguyên đứng ra chấp chưởng!...”

Tặc là trái với đạo lý, đi ngược lại luân thường. Thuở vượt biển, tôi gặp bọn hải tặc Thái cướp của, hiếp dâm, và giết người gây kinh hoàng trên biển cho những thuyền nhân. Nhưng không hẳn cứ đổ máu gây thiệt hại đến mạng người mới gọi là tặc. Khai thác lâm sản bất hợp pháp bất kể quy luật thiên nhiên là lâm tặc. Lợi dụng uy quyền để thu vén của cải nhà nước về cho mình là quyền tặc. Xâm chiếm tài sản của dân bất hợp pháp là thổ tặc. Buôn bán chữ nghĩa vô tội vạ bất kể khả năng gọi là bằng cấp tặc. Và còn nhiều tặc nữa. Mỗi tặc gây thiệt hại một lãnh vực. Gộp chung lại thì đất nước tan hoang. Trong cảnh đám tặc rỉa khoét xã hội đó, bạn tôi nhắc đến niềm tin, và khuyên cô giáo giữ lấy liêm sĩ của nhà giáo.

“Đúng lại thêm một đứa tặc: - Giáo án tặc! Chính em, e rằng cũng mon men nhập tặc. Đừng em ơi, anh van em! Trên đầu em có thể có ông tặc to hơn, oai hơn đang soi mói dòm dõ hậm hự đe nẹt. Rồi trên, trên nữa… Dưới, dưới nữa… Tặc, tặc, tặc nữa… tạo thành dòng lũ hiệp đồng ngạo nghễ oan khiên ùa tới, xô dập, nhận chìm đám trẻ tội tình đang tuổi ăn chưa no lo chưa tới, mắt biếc môi hồng thèm sống thèm yêu… Xót thương em cơ chừng chết giấc. Cầu mong em có đủ niềm tin và dũng khí để đoạn tuyệt dần những món hàm hồ lấp liếm kia đi. Đấy là thương ta thương đời, quý dân quý đất…”

Tôi vẫn không ngờ một người đạo mạo như bạn tôi thời trung học ở Lasan lại có lúc dí dỏm, bông đùa thật ý nhị.

Anh đã tính lên đường trực chỉ Gò Môn thăm em nhưng còn e mắt mũi kèm nhem đi trệt qua gò mối. Chân giò bối rối lạc phía gò phơi rơm. Não trạng lôm côm đâm qua gò ông Cuội. Châu thân bại xuội lộn tuốt Gò ông Đền… Ôi thôi, chết kiếp gập ghềnh rồi cũng lần về tới nơi Gò Mả!...”

Xã hội lành mạnh nhờ vun bồi cho đám trẻ lúc còn ngồi trên nghế nhà trường. Dạy cho chúng biết kính trên nhường dưới, biết kính trọng thầy cô và cha mẹ, giữ lòng tự trọng, nghĩa khí, trau dồi trí dục. Ôi! Biết bao nhiêu thứ để dạy cho con trẻ. Bách niên thụ nhân. Nguyên tắc trồng người của Quản Trọng lúc nào cũng còn giá trị. Các sư huynh Lasan đã bỏ công trồng nên những cội tre già như bạn tôi. Thời gian trôi qua chỉ mới hơn 40 năm từ ngày rời ghế nhà trường. Tinh thần Lasan sẽ còn sống vững 60 năm nữa cho đúng luật trăm năm trồng người. Bạn tôi không còn làm bạn với bảng đen phấn trắng nhưng vẫn ưu tư về nghiệp nhà giáo, sự giáo dục bầy trẻ mà đại diện là cô giáo trẻ.

“Anh nói tào lao lạc đề quá rồi phải không?! Chẳng qua vì anh quá mơ màng liên tưởng tới sự nghiệp giáo dục. Vâng, nền giáo dục này anh muốn ví như một bầu sữa lớn, đục hay trong, sáng hay tối, có tầm ảnh hưởng quyết định tới vận mệnh lâu dài của dân của nước. Là nguồn dưỡng cấp trực tiếp cho triệu triệu sinh linh son dại, trăm ngàn thế hệ măng tơ. Anh dám dõng dạc tuyên bố với em rằng – Những trang giáo án của em chính là cửa vào, là cái núm tôn nghiêm của bầu sữa thênh thang đó… Lẽ nào em tôi lãnh đạm vô tâm để nó mang tật, biến hình dị dạng, làm tắc tia sữa? Bầy trẻ sẽ chết khát, chết chắc! Mong em ngàn trùng thương cảm nói ít hiểu nhiều…”

Chữ nghĩa bạn tôi ngông nghênh tuôn ra vô lượng đến thế nên Minh nói với tôi ngôn ngữ của Khối mang chút “điên” của Bùi Giáng. Tuy ngông nhưng lại đầy ý nghĩa. Nó biểu tượng sự tự do phóng túng trong ngôn ngữ. Tôi cũng thầm đồng ý và chợt có ý nghĩ cái lối viết này tượng trưng cho sự nổi loạn chữ nghĩa của những kẻ bị cầm tù tư tưởng. Tư tưởng bị nhốt lại và khi có dịp bung ra thì buông thả. Bùi Giáng là một nhà thơ, nhà văn, nhà bình luận văn học và triết học, dịch giả đặc biệt của nền văn học Việt ở thế kỷ 20. Ông điên trong cái thế giới triết huyễn hoặc riêng biệt của ông. Văn thơ của ông bừa bãi thật gọn gàng, phóng túng trong trật tự, đen thẫm đến trong sáng. Tôi không dám so sánh bạn tôi với Bùi Giáng nhưng xin mạn phép trình làng hai bài thơ tiêu biểu của Bùi Giáng với lối sử dụng ngôn từ “bạt mạng” của bạn tôi để thấy Khối xứng đáng là đệ tử của nhà thơ họ Bùi lắm lắm.

Những người bạn
từ xa xôi về
Đem lại cho chúng tôi
những niềm vui vô lượng
Có người cười rực rỡ như mặt trời
Có người ngậm ngùi
khóc kể (lể) như mặt trăng
Có người hỏi không hiểu Việt Nam
là gì như thế
(vì người ấy rời Việt Nam lúc ba bốn tuổi)
Dù sao tất cả vẫn dường như là
tin cậy, tin yêu
vào một cái gì đó tương lai sẽ
đem lại cho đất đai xứ sở nghèo khó
một chút gì bất ngờ sẽ
chuyển dịch toàn thể vào một
xán lạn bất thình lình
và mọi sự sẽ sẽ sẽ vân vân vân…

Thơ Bùi Giáng (Không Đề)

Hỡi bóng dáng thân thương biết mấy tơ vương đêm đêm bên đèn
thao thức đã quen rồi, bởi em là cô giáo.
(Đúng là em rồi, y chang nhé!)
Hỡi giấy trắng tinh khôi, chở giúp em tôi bao ước vọng thơm lành
mây ngàn, gió núi, vẫn đêm đêm cùng em tự tình.
(Vậy đó, chỉ em thôi, còn ai vào đây cho xứng?!)
Em ngồi đó, dáng mai thon thả, tóc mây buông xỏa, rất dịu dàng,
Với cả tâm tình gởi vào trang giấy chứa chan – ước mơ ngày mai đàn em muôn nẻo thênh thang.
Đêm dần tan, đóa sao mai nở, tóc em thơm tỏa, giấc mơ huyền
Địa cầu quay đều dần phơi ra nắng mai, Em tôi còn ngồi rộn ràng bao niềm vui…
Vì đàn em… đàn em rất yêu thương
Vì ngày mai… Việt Nam ngát hương.
(Không yêu sao được! Chết liền!)

Thơ Phan Lạc Dân (Có Em Bên Ngọn Đèn Khuya)

Chữ nghĩa của bạn tôi ào ạt vô thường đến vậy nên chả trách môn Việt văn vào những năm ở Lasan cứ đứng nhất hoài. Bài bình Kiều của bạn tôi thường được đọc lên cho cả lớp “thưởng thức”. Bạn tôi tưởng tượng ra cảnh Kiều gặp gỡ Kim Trọng dễ dàng và múa bút thuần thục trên trang giấy. Còn tôi ngồi cắn bút nhìn trừng trừng tờ giấy như kẻ thù không đội trời chung. Chữ nghĩa ngông nghênh đến thế nên nghênh ngang đứng nhất lớp là phải. Chữ nghĩa của tôi ngô nghê nên điểm luận văn của tôi ngậm ngùi sổ toẹt cũng là điều dễ hiểu.

Gọi phôn cho bạn tôi. Khối nhắc đừng uống rượu nhiều, để sống và còn dịp gặp nhau. Bạn tôi tha thiết mời bạn bè về Lộc Châu, cơ ngơi nửa mẫu, đêm ra vườn ngồi ngắm trăng lên, uống rượu, hát hò, ngâm thơ cho quên hết sự đời. Ôi! đâu lại có những thú tao nhã đến thế. Bạn bè mỗi đứa một phương, nợ nần cơm áo còn nặng, biết bao giờ mới đáp lại được lời mời của bạn tôi.

Trăng kia sao chẳng vào dinh thự
Mà chỉ nằm chơi một ngọn cây
Bạn ta nào hiểu niềm sung sướng
Đời ta hề chưa bẩn đôi tay

Thơ Hà Thúc Sinh (…Nửa Chừng Hết Rượu)

Tôi thầm nhủ thế nào cũng có một ngày về để thăm bạn tôi. Đến vùng rừng núi đó, uống với Khối, với Bình một ly rượu cay. Bạn ngồi bạn uống rượu khan, Tôi ngồi uống nỗi cơ hàn bạn tôi! (Hoàng Đình Quang, Gặp bạn…) Nghe bạn tôi diễn ngâm thơ Đỗ Phủ, bình thơ Lý Bạch. Thêm tiếng đàn ghita của Minh đệm và bạn bè hát đến vang động cả núi rừng. Ngày đó có xa lắm không?

Cứ tưởng nằm kề bên họ Lý
Gác chân nhau nói chuyện biển dâu
Ma quỷ sợ tâm hồn ướt rượu
Gối chai không mà thương nhớ nhau

Thời đại thánh thần đi mất biệt
Còn lại bơ vơ một giống sầu
Rót mãi, bao nhiêu tình cũng cạn
Nâng ly, nhìn thấy tóc bạc mau

Thơ Vũ Hữu Định (Nhớ Lý Hạ)

Lại thêm một người bạn nữa. Cai văn Khiêm. Lá thư Minh gửi đi hỏi thăm xem bạn còn nhớ hay không mãi đến 8 năm sau mới có thư trả lời… Có vẫn hơn không bao giờ nhưng lòng vẫn buồn buồn. Thảng hỏi mới hay trục trặc vi-thư bất ngờ chứ lòng bạn tôi vẫn đầy ắp tình. Lại tình cờ bạn tôi lên đường công tác ở Đan mạch nên hẹn hò vài đứa bạn đang ở Đức. Ở cái xứ Âu châu tưởng xa nhưng lại gần, chỉ cần một ngày đường lái xe là có thể rong chơi thong thả. Điểm hẹn là phi trường Frankfurt. Minh nghỉ một ngày để đón bạn. Lâm ở Hamburg, mãi tận cùng miền Bắc nên đành ở nhà gọi điện thoại. Không biết lúc đón ở phi trường Minh còn nhận ra Khiêm? Cội tre già chắc chắn đã thay đổi nhiều. Hơn 40 năm rồi còn gì! Con sông chảy ròng rã từng ấy năm cũng đã đổi thay, bên lở bên bồi, làm gì còn khúc sông như trước… huống chi hình dáng con người. Vậy mà hai đứa bạn tôi vẫn nhận ra và siết chặt tay nhau ở phi trường. Nỗi vui òa vỡ như thác chảy đến nỗi thấy ai cũng khoe bạn bè hơn bốn thập kỷ mới gặp lại nhau. Minh tha thiết, xin chia vui với chúng tôi cơ hội trùng phùng.

Gặp nhau rồi ghé về nhà Minh và lên mạng để chào đón bạn bè ở Mỹ, ở Việt nam. Thật vui khi nhìn lại khuôn mặt gầy gầy của Khiêm. Có cái lạ là chúng tôi xa nhau cỡ 43 năm, vậy mà tôi vẫn nhận ra những nét thân quen. Trí nhớ như đốm tro tàn gặp gió bừng lên ngọn lửa hồng. Cám ơn ứng dụng skype đã cho chúng tôi thật mặt nhau (miễn phí) cho dù đang ở chân trời góc biển nào. Cách nhau hơn nửa vòng trái đất mà cứ ngỡ khoảng vài giờ lái xe.

Minh & Khiêm chỉ được gần nửa ngày với nhau nhưng có nhiều thứ để in sâu vào ký ức. Có cà phê, có điếu thuốc, có đàn hát miên man. Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ, Không gian trầm lắng như âu yếm ru ai trong giấc mơ… Khiêm hát với tiếng đàn ghita đệm của Minh. Ghi âm và gửi ra cho bạn bè thưởng thức.

Rồi phải từ giã. Người ở lại Frankfurt. Kẻ bay đi Luân đôn về Mỹ.

Nguyện tương song lệ đề vi vũ
Minh nhật lưu quân bất xuất thành

Sớm mai chàng đã đi chưa
Xin đem nước mắt làm mưa giữ chàng

Nguyễn Bính dịch

Tuy không phải lần chia tay của tình nhân nên không có nước mắt rơi nhưng chắc chắn có bùi ngùi, có nỗi cảm xúc dạt dào, có đôi bàn tay nắm chặt. Chia tay nào cũng thấy bịn rịn níu bước chân. Sân ga hay phi trường đều thấy cảnh kẻ ở người đi. Cổng trình vé mở ra rồi đóng lại. Bạn bè vẫn cách xa nguyên một lục địa, thêm một đại dương. Nhưng xin ghi nhớ lần gặp gỡ này để mong thêm một lần trùng phùng khác.

Đến Luân đôn, bạn tôi mở vi-thư nghe lại bản Dư Âm đã gửi ra cho bạn bè lúc trưa rồi về Mỹ gửi cho bạn bè mối tâm sự.

Minh và các bạn thân mến,

Tuần vừa rồi tao đi công tác ở Đan Mạch, và trên đường về dừng lại ở Frankfurt để thăm Thái Quang Minh sau gần 40 năm xa cách. Đêm trước hôm về tao không sao chợp mắt được- có thể vì giờ giấc bị thay đổi hay vì nôn nao gặp lại bạn bè- tao biết chúng ta sẽ có cơ hội nói chuyên trên skype.

Phi cơ hạ cánh đúng 9:00 sáng. Tao rời cổng và ra khu vực chờ đón; gọi cho Minh để cho biết chỗ đứng cuả mình nhưng gọi hoài mà điện thoai không thông. Đứng ở đó khá lâu mà không thấy ai là người Á Đông với trạc tuổi như mình, với giáng dấp cuả Minh ngày cũ. Sau đó tao đành phải xuống tầng dưới và đến Meeting Point. Đợi ở đây vài phút thì thấy có người Ắ Đông cỡ tuổi tao xuống thang lăn, và tụi tao mừng rỡ đón chào nhau. Sau bao năm xa cách Minh thật đã khác nhiều. Tuy tóc vẫn đen và dày nhưng bộ râu mép đã bạc nhiều phong sương.

Minh dẫn tao đi dạo một vòng phố Frankfurt- Quả nhiên Frankfurt rất đẹp như trong ý tưởng của tao- Dòng sông Main uốn khúc với những kiều nữ tóc vàng xinh đẹp chắc là những chất liệu gợi hứng cho Minh khi anh hát những bài tình ca gợi cảm. Minh và tao dừng ở quán cà phê bên đường. Nhắp ngụm cà phê nóng, nhìn nắng vàng thoi thóp cuả buổi sáng cuối thu, kéo zipper lên tận cổ vì sợ lạnh, tụi tao nói về rất nhiều thứ- trong đó có các frère, các thầy và hầu vết về tụi bay.

Chơi ở Frankfurt khá lâu, Minh đưa tao về nhà và nấu cơm ăn- Thằng này có tài nấu nướng. Mày nấu khá lắm Minh. Trong căn phòng ấm cúng tao thấy chiếc guitar và rất nhiều tập nhạc- nào nhạc tiền chiến Việt Nam, nào nhạc Trịnh Công Sơn, nào nhạc Ngô Thụy Miên, v.v. rất nhiều nhạc. Minh trả lời tao là rất thích hát, và sau đó trình bày bản Serenade và một bản nữa mà Minh cho là tuyệt tác cuả Trịnh Công Sơn. Giọng Minh rất trầm cảm và rất mạnh - có thể gọi là hắn có một giọng ca gợi cảm. Xin đừng hiểu lầm - gợi cảm ở đây là Impresionism, tức là để lại cho người nghe một ấn tượng sâu xa. Minh hát hay lắm. Bạn tôi rất nhiều nghệ sĩ tính.

Sau khi Minh hát xong thì tao cũng hát. Với giọng hát thuốc lào tao theo điệu nhạc Minh đàn và hát bản Dư Âm mà Minh đã gởi đến tụi bay. Xin đừng cười, tao đã nói rồi - Minh đàn thì ễnh ương cũng hát được.

Hát xong tụi tao ăn cơm, rồi sau đó lên mạng với tụi bay. Tao được hân hạnh nói chuyện với Lâm, Lý, Trinh, Minh Đặng, Khối và Trí. Sau bao nhiêu năm xa cách bây giờ minh có dịp trùng phùng trên mạng lưới toàn cầu. Nhìn Lâm, Lý, Trinh, Minh Đặng tao thấy các bạn giống như những Đại Gia. Rất tiêc không nhìn được hình ảnh của Khối và Trí. Nhưng biết được tụi bay còn khoẻ thì vui rồi.

Cảm ơn các bạn ở Việt Nam đã thức khuya, các bạn ở Mỹ đã dậy sớm để họp mặt. Cám ơn Lý đã ghi lại âm thanh và hình ảnh của buổi đàm thoại. Tao rất vui - vui lắm.

Sau khi ngưng nói chuyện với tụi bay, Minh và tao hút thêm vài điếu thuốc uống thêm vài ly cà phê và sau đó Minh đưa tao ra phi trường đi Luân Đôn.

Cuộc hội ngộ chỉ chưa được nửa ngày, nhưng hình như đã nối liền được 40 năm giã biệt. Chuyến hành trình về Mỹ hình như nặng hơn. Có thể vì tao mang theo thêm những kỷ niệm cũ hình như đang trở lại.

Đêm ngủ tại Luân Đôn tao mở email và thấy bài Dư Âm, mở lên nghe giọng thuốc lào cũng vui. Giống như thằng Trinh nói - tao hy vọng có ngày mình về Bảo Lộc, bắt Phan Khối tổ chức đêm không ngủ để Minh đàn, Khối ngâm, tụi mình hát, và thằng Trinh làm DVD LaSan By Night để tặng riêng cho các bạn Trinh Vương.

Đặc biệt cám ơn Minh đã tiếp đãi tao rất thân tình và nồng hậu - Đây là một cuộc hội ngộ đặc biệt và khó quên.

Rất thân mến,


Cai Văn Khiêm

Mỗi tháng chúng tôi hy vọng kiếm thêm được một người bạn. Vậy thôi, không dám mơ ước nhiều sợ thất vọng. Mỗi năm kiếm lại được 12 đứa là lòng đã thấy vui. Riêng tháng Mười và Mười Một may mắn tìm ra tung tích 6 đứa bạn ở Komtum, Bảo Lộc, Sàigòn, Cali, Indiana… Còn mong ước gì hơn.

Rồi sẽ có một ngày ta ngoái lại
Bạn bè ơi, khi ấy có còn nhau
Cơn lốc đời đưa đẩy bạn về đâu
Ta ngoái lại tìm nhau, e mất dấu
Ta ngoái lại tìm nhau, mong ẩn náu
Góc bạn bè yên ấm cảm thông ơi
Ta ngoái lại rụng rời đôi cánh mỏi
Góc bạn bè tin cậy, bớt chơi vơi
………………………………
Rồi sẽ có một ngày, sau tháng ngày dâu bể
Chúng mình cùng ngoái lại tìm nhau
Ta nói yêu thương khi mắt đổi thay màu
Bàn tay héo cầm lâu cho ấm mãi
Trái tim héo, nụ cười xưa dẫu héo
Chỉ xin đừng tàn lụi chút niềm tin
Dẫu mong manh vụn vỡ chẳng nguyên lành
Xin hãy có một ngày nhen nhúm lại.


Thơ Đinh Thị Thu Vân (Rồi sẽ có một ngày ta ngoái lại)

Cứ ngoái nhìn quá khứ là thấy bạn bè. Có đứa mất, đứa còn nhưng hình ảnh của bạn bè vẫn kiên nhẫn đứng đợi. Cho dù một nấm mồ hay một hình hài còm cõi; cho dù một mái tóc điểm sương hay còn xanh ngát; cho dù thân hình thay đổi hay giọng nói đã đổi thay… cứ hễ nói chuyện dăm ba câu là thấy dĩ vãng, thấy lại sân trường tung bụi mù những bước chân chân nghịch ngợm của tôi, của bạn bè tôi.

Ôi! Dĩ vãng tuyệt vời.

 Hà Ngân
Thêm bình luận

Bài vở và hình ảnh xin gởi về This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.