alt

Khoảng cách là khoảng trống cách biệt giữa hai hữu thể. Hữu thể này có thể là hai người, hai sự kiện, hoặc hai sự vật. Khoảng trống có thể mênh mông như mây trời hoặc gần trong gang tấc nhưng vẫn thấy xa vời vợi. Cho dù thế nào đi nữa, khoảng trống hiện hữu nói lên một cách biệt không gian.

 Trong tình yêu, người ta e sợ cái khoảng cách không gian khi hai kẻ yêu nhau ở hai nơi vì tình yêu chợt trở nên mong manh.

  Có khoảng cách
từ ánh mắt
đầu tiên
Đến lời hứa
giờ không ai
nhớ nữa?
Có khoảng cách
dài từ rơm
đến lửa
Chỉ chạm vào
hai đứa cháy
thành tro!...
Có khoảng cách của tình yêu mong manh
Gần gụi lắm dẫu nửa vòng trái đất
Có bao giờ anh hỏi mình câu dễ nhất
Khoảng cách nào ở mãi giữa hai ta?

Thơ Đinh Thị Như Thúy (Một ngày tháng sáu)

Không hẳn chỉ khoảng cách trong tình yêu mới đốt cháy đôi tình nhân nhưng hầu như bất cứ khoảng cách nào đều dẫn đến một hệ lụy đớn đau. Khoảng cách của đối thoại thường dẫn đến bất đồng. Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội cũng rất đáng sợ. Sự chênh lệch quá lớn ở giữa hai tầng lớp giàu nghèo luôn đưa đến những mâu thuẫn trong xã hội vì khoảng cách này là biểu hiện của bất công, của sự phân phối của cải vật chất bất hợp lý. Khoảng cách giữa vị tha và vị kỷ là tiếng nói của trái tim biết thổn thức. Còn khoảng cách giữa từ tâm và nhẫn tâm là tiếng nói của lương tâm biết ray rứt. Vô cảm biểu hiện một khoảng cách rất lớn của tình người. Trong tất cả những khoảng cách đó đều thấy nỗi xót xa.

Còn khoảng cách của thời gian thì sao? Thưa cũng xót xa lắm. Thời gian bào mòn trí nhớ. Thời gian 40 năm đủ để phai mờ những hình ảnh trong quá khứ. Mỗi lần tìm ra một đứa bạn thì từng ấy thằng bạn cũ tìm cách nghe cho được giọng nói của nó. Tôi cũng háo hức như thế. Tôi muốn nghe lại cái giọng thuở nào rồi cố moi trong ký ức một chút âm hưởng của quá khứ. Giọng trầm trầm, giọng khàn đục, giọng trong trẻo… đều gợi nhớ trong tôi một thoáng hương ngày cũ, những năm tháng trên sân trường La San vui đùa học hành. Khoảng cách 40 năm đủ hằn những nếp nhăn trên khuôn mặt của bạn tôi. Nước da đen sạm khác hẳn những ngày cắp sách đến trường trắng trẻo thư sinh. Những sợi tóc bạc phủ trắng hai bên thái dương, khoe hàm răng khi nở nụ cười chào bạn bè trên màn hình. Có những khuôn mặt vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, như khuôn mặt của Lý, nhưng một vài khuôn mặt đã tàn phai theo thời gian. Ký ức tôi lạ lẫm với vài khuôn mặt như thế nên tôi ngờ ngợ lúc ban đầu và rồi chợt nhận ra những nét thân quen khi nghe tiếng bạn bè cười nói. Cuối cùng, tôi vẫn hình dung được một Phạm Tịch, Phạm văn Sơn, Lâm Minh Trí, Phan Khối, Lê Thái Bình…

Những khuôn mặt xa xôi
Những khuôn mặt gần gũi
Những khuôn mặt đen sạm
Những khuôn mặt rám nắng
Bốn mươi năm gặp lại cố lấp đầy khoảng trống vắng
Dĩ vãng và hiện tại là một khoảng cách xa
Bạn bè sống tản mác ở quê nhà
Thời gian lầm lũi bước qua

Nét xưa ngờ ngợ như là chiêm bao.

Chỉ riêng khuôn mặt của Lâm Hải là tôi không nhận ra. Mới đây, Hải vào Sàigòn lo đám hỏi cho con trai, chụp một tấm hình với Lý. Nhìn thân hình và khuôn mặt của Hải, tôi không thể hình dung được đó là thằng bạn năm xưa ở La San. Bạn tôi đổi khác đi nhiều lắm. Bây giờ nó trông gầy hơn, ốm hơn, hai gò má nhô cao hơn. Trí nhớ của tôi còm cõi hay khuôn mặt của Hải còm cõi? Vậy mà Chiến đã nhận ra Hải lúc thằng bạn đang ngồi vắt vẻo trên chiếc xe thổ mộ vào một buổi trưa nắng gắt ở Sông Mao năm 1979.

Có thể thời gian chỉ mới 7 năm, nhưng Hải lúc đó cũng đã thay đổi nhiều. Theo lời Chiến kể, trên đường từ Sàigòn về lại Qui nhơn, tình cờ xe đò ghé lại Sông Mao để ăn trưa. Ăn vội cho qua bữa, thấy còn dư chút thời gian, Chiến tản bộ dọc theo hàng quán. Mùa nắng ở Sông Mao trời như muốn thiêu sống người và vật. Giữa trưa, từng vạt lửa ném xuống mặt đường hắt ngược hơi đốt hừng hực đến rát mặt. Mảng không khí treo lơ lửng trên mặt đường bị hun nóng làm khung cảnh bỗng trở nên lung linh huyền ảo. Chiến thoáng thấy chiếc xe thổ mộ uể oải bước ngược chiều. Tiếng chuông lục lạc vang lên rời rạc theo bước chân mệt mỏi của chú ngựa đang cắm cúi gõ nhịp. Ngồi vắt vẻo ở đầu xe, anh xà-ích cũng chẳng buồn vung ngọn roi dài chỉ đường, cứ để chú ngựa vốn đã quen đường cũ lần bước. Tiếng lộp cộp của móng ngựa gõ xuống mặt đường vào giữa trưa nghe buồn buồn như một khúc nhạc đơn điệu. Nhìn qua làn không khí bị hâm nóng hình dáng của chiếc xe thổ mộ bị khúc xạ chợt trở nên mờ ảo, không rõ nét. Thế mà Chiến lại nhận ra anh xà-ích là thằng bạn năm xưa ở La San. Hơn 7 năm kể từ lúc thấy nhau lần cuối ở Sàigòn. Khi nghe gọi tên, Hải nhìn dáo dác chung quanh và nhận ra ngay thằng bạn đang đứng bên vệ đường vẫy tay. Hải ghìm cương ngựa, nhảy vội xuống xe vồ lấy thằng bạn. Hai thẳng ôm lấy nhau, hỏi han không ngớt lời.

Lãng tử hết thời
Mắt chạy theo xe thổ mộ
Gởi câu thơ trên lưng
Con ngựa oằn mình chờ sáng
Tiếng hí lạc vào sương
Thơ Đào Hũu Thức (Một ngày mới bắt đầu)

Nếu trên đời có những bất ngờ khó tin thì lần gặp gỡ giữa Chiến và Hải là một tình cờ lý thú nhất. Giả sử Chiến không đáp chuyến xe đò vào ngày đó, hoặc không ghé Sông Mao để ăn trưa. Giả sử Chiến cứ ngồi tại quán ăn. Giả sử Hải không về nhà ăn trưa hôm đó (theo lời Hải phải đi làm cả ngày chỉ về nhà vào chiều tối mà thôi). Giả sử Hải đi con đường khác về nhà, hoặc giả sử Hải về sớm hơn thường ngày. Chỉ kể ra từng ấy “giả sử” thôi, tôi đã thấy cả một sự trùng hợp hi hữu vượt ngoài trí tưởng tượng của tôi. Thường người ta nhớ đến chuyện cũ và bắt đầu bằng hai chữ “giả sử” với tiếng thở dài nuối tiếc thì những “giả sử”của lần gặp gỡ này lại ghi đậm trong tâm trí Chiến với nụ cười sảng khoái. Mười mấy năm sau, giọng Chiến vẫn rộn ràng khi kể lại cho bạn bè nghe lần gặp gỡ đó.

Chiến không có thì giờ nhiều với Hải, vì đến giờ xe đò chạy, chỉ kịp ghi vội địa chỉ của Hải kèm theo lời dặn, “nhà tao ở ngay chợ Sông Mao, khi về nhớ ghé tao”. Chiến hứa.

Lời hứa không thực hiện được vì công việc đa đoan. Cứ ngỡ chuyến trở về Sàigòn thế nào cũng ghé nhà Hải, nhưng rồi xe đò chạy ngang thành phố Phan Rang, chỉ kip cho Chiến trông vời ở xa xa và mường tượng đến khu chợ, ở đó có căn nhà của thằng bạn đang ngóng chờ. Chiến cứ tiếc mãi buổi chiều thằng bạn phải đánh xe về sớm để chờ mình, ngồi trước hiên nhà ngóng mãi chẳng thấy bóng dáng thằng bạn cũ. Chiến cứ áy náy mãi về một lần lỡ hẹn.

Và mãi đến hơn năm sau, Chiến mới có dịp ghé thăm Hải cùng với Lâm, nhân dịp thằng bạn bay từ Đức về thăm quê hương. Chụp được tấm hình rồi vội chia tay. Lâm trở về Đức. Chiến cuối cùng định cư tại Mỹ. Bạn bè bặt tin từ đó.

alt

Hơn 10 năm sau, bạn bè có đứa nhớ đến Lâm Hải, hỏi han. Lâm và Chiến chỉ nhớ mang máng địa danh Sông Mao, Chợ Lầu. Nhà Hải ở ngay trước mặt chợ. Nhớ thế thì cầm bằng như không vì ở khu chợ biết căn nhà nào; vả lại thằng bạn tên Hải có phải là một nhân vật nổi tiếng ở Phan Rang đâu mà ai cũng phải biết. Một người bạn khác – Phạm Tịch – hiện ở Cam ranh, đánh liều gửi thư về địa chỉ mù mờ ở Chợ Lầu. Trong thơ, Tịch nhắn nếu người nhận là Hải thì gọi điện thoại cho biết. Gửi đi mà lòng chẳng hy vọng gì.

Vậy mà có người gọi đến. Vợ Hải. Hóa ra lá thư đến căn nhà cũ, căn nhà ở Chợ Lầu. Lần này phải vỗ tay một phát cho hệ thống bưu điện nhà nước, đặc biệt riêng cho ông phát thơ một tràng pháo tay thật dòn. Không số nhà, chỉ có tên chủ nhà và tên chợ. Vậy mà đến tận tay mới lạ. Lại thêm một hi hữu. Tôi chợt nghiệm ra sự gặp gỡ và tái ngộ đều ở cơ duyên. Như buổi trưa năm nào khi Hải còn ngồi rong ruổi trên cỗ xe ngựa, khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi. Cho đến bây giờ giọng nói một người đàn bà xa lạ tự giới thiệu là vợ Hải. Nếu không cơ duyên thì cũng hữu duyên. Bạn bè La San bây giờ hầu như hữu duyên thiên lý năng tương ngộ.

Giọng người đàn bà reo vui khi nói chuyện với Tịch. Nhà em vừa nhận được thơ đã muốn gọi ngay, nhưng phải ra ngoài có chút việc, hẹn về nhà sẽ gọi cho anh liền nhưng em lại muốn gọi anh trước. Chuyện trò một lúc, vợ Hải nói thật không ngờ bạn bè sau 40 năm mà còn nhớ đến nhau để hỏi thăm, anh Hải lặng người cầm lá thư trên tay không nói được câu nào. Em thấy ảnh xúc động thật sự, vợ Hải bảo Tịch.

Rồi Hải cũng gọi đến Tịch. Từ đó biết đến bạn bè khác ở khắp nơi. Hải vẫn nhớ đến một thời làm xà-ích, nhớ đến lần tình cờ gặp Chiến giữa đường, nhớ luôn cả Lâm một lần về Sông Mao thăm hỏi và đặc biệt nhớ cuối năm đệ Nhị, lần cuối cùng ngồi với Tịch trên ghế đá trước bãi biển Qui nhơn để ngày hôm sau Tịch lên đường nhập ngũ. Bạn bè La San bây giờ có thêm một thằng bạn nữa. Lâm Hải. Theo lời vợ Hải kể, hai vợ chồng may mắn làm chủ một cửa hàng phân phối vé số. Hải bây giờ tương đối nhàn hạ ngồi trong nhà làm sổ chi thu, hết còn dầm mưa dãi nắng trên chiếc xe thổ mộ. Bạn bè có đứa hỏi đời sống kinh tế khấm khá thế mày có dịp trở về Qui nhơn bao giờ chưa? Hải bẽn lẽn trả lời đã 40 năm (1972-2012) chưa một lần trở lại thăm ngôi trường cũ.

Vậy mà có người tìm về cho bằng được để thấy ngôi trường cũ. Cứ mỗi lần về Qui nhơn là mỗi lần ghé thăm trường. Và mỗi lần như thế đều hối lộ ông gác dan để ông mở cổng cho vào. Theo lời Hiền kể, trường bây giờ đổi khác lắm rồi. Con đường dẫn từ cổng đến lớp học ngắn ngủn như một năm duy nhất Hiền học lớp 12C ở La San. Cô Nguyễn thị Hiền năm xưa gửi vi-thư tâm sự. Cây cối tuy vẫn xanh nhưng không còn thấy cây muồng, cây me tây rợp bóng. Lớp học tuy như cũ nhưng đã sơn màu vàng vàng, không là màu trắng đục như xưa. Bảng màu đen, không còn màu xanh. Cả một ký ức rực rỡ màu sắc của Hiền được dịp sống dậy. Màu sắc tuy có khác đi nhưng hương xưa vẫn còn phảng phất.

Ngẩn ngơ chiều khi nắng vàng phai
Thương nhớ ngày xưa chất ngất hồn
Một mình thơ thẩn đi tìm lại
Một thoáng hương xưa dưới mái trường

Cho dẫu xa rồi vẫn nhớ thương,
Nầy bàn ghế cũ, nầy hàng me
Bảng đen nằm nhớ người bạn trẻ
Bụi phấn xa rồi... gửi chút hương!
Thơ Thái Mộng Trinh (Bụi phấn xa rồi)


Cứ tưởng tượng một người đàn bà lang thang trong chiều tà trên sân trường La San cũ, cặp mắt u uẩn trông vời về cõi xa xăm, lững thững nhìn ngắm trời mây, bàn tay mân mê thân cây và chợt nhận ra lớp vỏ sần sùi của hàng cây me tây không còn nữa. Bàn tay run rẩy trên cành như muốn níu giữ lấy một mẩu quá khứ của sân trường thuở lớp 12, những ngày xưa thật êm đềm bây giờ sống dậy mãnh liệt hơn bao giờ. Hiền lẩn thẩn để bước chân trôi vô định rồi lần bước đến phòng học nằm ở cuối dãy ở tầng trệt, vào đến lớp, ngơ ngác nhìn quanh. Diện tích phòng học vẫn như cũ, nhưng tường đã đã đổi sang màu vàng nhàn nhạt, bảng hết còn xanh. Trong một thoáng, Hiền chợt nghe tiếng thầy Raymond âm vang trong giờ Triết thoảng theo gió lùa ngang lớp học trong không gian tĩnh mịch của buổi chiều tà. Rón rén ngồi xuống ghế, Hiền nhìn mông ra cửa sổ, ánh mắt dõi sang bên hông ngôi nhà nguyện. Từ chỗ ngồi này, hơn 40 năm trước, cô nữ sinh đã một lần mơ mộng, thả hồn bên ngoài lớp học, nhả những vần thơ óng mượt. “Lối Cỏ”, Hiền vẫn còn nhớ như in bài thơ này, đã gửi tặng lại cho bạn bè lớp 12AB.

về đâu
kỷ niệm vẫn là lá chắn
ngỡ ngàng nước mắt trong veo
cho tháng năm trơ gầy
như tượng…

về đâu
hương cỏ dại còn nồng trong tóc
những con đường ngang dọc
thoi thóp hoài không thôi
chưa muốn tắt
cánh môi chiều quá đắng…

về đâu

những bước chân
những buồn vui chen lẫn
thỏa hiệp đời
lắng mãi ngẩn ngơ…

về đâu
chút cỏ xanh tình cờ
trên phần mộ cũ
lửa đã cháy trong mắt mù ảo vọng
chút tàn tro
lảo đảo
một đời thơ...

Thơ Nguyễn thị Hiền (Lối cỏ)

alt

Chỉ cần ngồi xuống ghế, Hiền đã thấy lại cả một khung trời La San, nhớ đến thầy Raymond dạy riêng môn Siêu hình học cho mỗi Hiền là học sinh duy nhất theo ban C vào năm ấy, nhớ đến thầy Ngữ dạy thêm Anh văn cho hệ số 4. Lớp còn đây nhưng các thầy bây giờ đã lưu lạc phương nao. Tựa nhẹ lưng vào thành ghế, Hiền nhắm nghiền đôi mắt, và bỗng nhiên lớp học sống động tiếng cười nói ở chung quanh. Giọng frère Placid trên bục giảng giờ Tân toán học, môn học mà Hiền không mấy hứng thú. Tiếng cười nói của Nguyễn Huế, của Lê bá Hồng ở dãy ghế sau Hiền nghe như rót vào tai. Khuôn mặt nhìn nghiêng của Trần nguyên Minh ngồi bên kia đang cắm cúi ghi chép. Trong tâm trí Hiền, từng khúc phim sinh hoạt của lớp học quay lại chầm chậm, rõ từng nét. Nào Ngọc Ba, Diệp, Kim Nhung, Diệu Thái, Thanh Tâm, Thu Oanh, Yến Anh, Anh Thư, Thanh Bình, Hợi, Kính, Hồng Anh, và Thùy Hương. Mười ba tà áo trắng bay rợp trong ký ức của Hiền. Hiền lặng người khi nhớ đến thầy, đến bạn bè giờ chỉ còn một khoảng cách xa.

Bạn cũ bây giờ xa tôi lắm
Mỗi đứa một nơi cách biệt rồi!
Cuộc đời cũng tựa như trang sách
Thư viện mênh mông, nhớ mặt trời!

Nước mắt bây giờ để nhớ ai?
Buồn cho năm tháng hững hờ xa
Tìm đâu hình bóng còn vương lại?
Tôi nhớ thầy tôi, nhớ... xót xa!

Thơ Thái Mộng Trinh (Bụi phấn xa rồi)

Hiền ngồi đó, mãi đắm chìm trong biển dĩ vãng và không để ý đến một người đàn ông khác cũng thường lang thang trên sân trường. Phước, đúng ra là Nguyễn hoàng Phước, tên người đàn ông, một cựu học sinh La San. Năm đệ Tam, Phước rời trường rồi mãi đến sau 75 quay trở lại Qui nhơn. Căn nhà của Phước nằm ngay sau trường La San. Vùng đất này trước thuộc về căn cứ Mỹ, sau giao lại cho quân đội VNCH, và bây giờ được giải tỏa để lập khu dân cư. Từ nhà đến hàng rào phía sau của trường chỉ cách mấy chục bước, Phước cứ rẽ hàng rào là bước vào sân trường. Tôi hỏi thế mày bước vào trường làm gì? Phước cười cười nói cho bớt nhớ bạn bè, các frères, thầy, và lớp học. Tôi nghe nghèn nghẹn ở cổ họng. Thằng bạn nhớ bạn bè trường lớp da diết đến vậy sao? Tôi ngậm ngùi nghĩ đến tôi. Phước mỗi lần nhớ đến bạn bè, còn có sân trường ngay bên cạnh để bước qua. Tôi, thân phận người xa xứ, biết đến lúc nào mới quay lại mái trường xưa.

Ai có về bên ấy thăm quê
Cho tôi nhắn tin người bạn học
Em có ghé trường xưa cỏ mọc
Nhặt giùm tôi chút ấu thơ vàng

Thơ Trần Trung Đạo (Chiều cuối năm nhớ bạn)

Có lẽ tôi phải nhờ Phước nhặt dùm tôi chút ấu thơ vàng óng rơi rớt trên mặt cỏ, hoặc còn sót lại trên sân trường, hay đâu đó trong lớp học mà Hiền mãi ngồi tư lự. Hai người, Phước và Hiền, một người học 4 năm, một người học chỉ có 1 năm mà sao ký ức họ đong đầy những kỷ niệm? Tuy mảnh quá khứ vẫn còn nằm trong tâm trí nhưng tôi không khao khát đến cùng cực như Hiền, cũng chẳng ray rứt dữ dội như Phước. Mà Phước còn nhớ đến bạn bè một cách lạ lùng. Sau đôi lần nói chuyện qua ooVoo, bạn bè hỏi đến gia đình, con cháu. Hóa ra Phước đã là ông ngoại rồi. Hỏi tên con gái, Phước nói Nguyễn Hoàng Nhã Phương. Còn tên đứa con trai, Nguyễn Hoàng Quốc Phương. Quốc Phương là tên một thằng bạn khác đang sống ở Beaverton, thuộc bang Oregon. Cả đám bạn chưng hửng, nhất là Phương. Không đợi hỏi, Phước bảo tao nhớ nhất thằng Quốc Phương nên đem đặt tên cho con. Nhà Phương có lệ anh chị em đều cùng mang tên Phương, chỉ khác nhau chữ lót. Phước cũng đem lệ đó đặt tên cho hai đứa con. Tôi ganh thầm, hỏi tên tao cũng đẹp vậy sao mày không chọn mà lại chọn Quốc Phương? Phước nói tao chỉ thấy tên Quốc Phương đẹp nhất. Bạn bè chỉ còn biết cười xòa với Phước.

Nghĩ cho cùng, tên Quốc Phương ẩn hiện ước mơ của riêng tôi, của những người nặng lòng với quê hương xứ sở. Quốc gia thơm. Đất nước thơm. Ai mà không mong thấy đất nước mình có những cánh đồng thơm lúa. Ai mà không muốn thấy đất nước mình thơm ngát tình người, nức hương công bằng nhân bản. Ở đó mọi công dân biết tôn trọng nhau, biết thương yêu nhau, sống đầy ắp tình bà con lối xóm. Thế giới đầy quốc phương thì chẳng có chiến tranh vì nước nào cũng biết tự lập, không bày mưu mô ăn bám, sống nhờ như cây tầm gửi; biết tự trọng phẩm giá của chính quốc gia mình, biết giữ tự ái dân tộc, biết xấu hổ khi làm một điều gì bậy có hại cho thanh danh của nước mình; biết tự chế không ngang tàng như một kẻ múa gậy vườn hoang. Ôi! giấc mơ cho đất nước tôi, ước mơ cho tất cả mọi nước đang hiện diện trên quả địa cầu này.

Khi nói đến ước mơ nghĩa là chưa thực hiện được. Khi kêu gọi đoàn kết nghĩa là chúng ta đang chia rẽ. Khi nói đến sám hối nghĩa là chúng ta đang có tội. Tội với dân tộc, với tổ tiên, và với Trời. Khi mong hội ngộ nghĩa là bạn bè đang xa cách. May mắn thay, cái khoảng cách giữa bạn bè tôi đang dần dần thu ngắn lại nhờ công sức của một số người tìm kiếm. Tịch tìm ra Lâm Hải và Phước. Hiền về nước làm một vài công việc thiện nguyện đã bỏ công đi thăm Kim Nhung ở QN (nhờ Thu Oanh ở Úc tìm ra), sẽ về Vũng Tàu siết tay Diệp, sẽ lên Pleiku ôm chầm lấy Ngọc Ba. Riêng Thùy Hương kiếm được bạn bè là nhờ trang tvqn.info.

Một buổi sáng tình cờ tôi nhận được cú phôn của một phụ nữ tự xưng là bạn học cũ. Nhẩm tính trong đầu lớp 12 năm đó bây giờ đã kiếm được Bình, Hợi, Tâm, Oanh, Anh Thư, Kính và Hiền. Nhìn số điện thoại vùng, 713, tôi đoán phải ở dưới Nam Cali, vì vùng của Tâm ở Los Angeles là 714. Hóa ra không phải, 713 ở mãi tận bên Florida cực Đông, chứ chẳng phải cực Tây như Cali. Tôi chợt nhớ đến Khiêm có lần bảo Thùy Hương đang định cư bên Florida. Làm thế nào để bạn tôi biết Thùy Hương rõ đến vậy thì tôi chẳng hỏi. Nghe qua rồi quên bẵng. Mãi đến lúc người đàn bà bật mí cho biết đang ở Florida thì tôi buột miệng, Thùy Hương phải không? Khi tâm trí tôi nghĩ đến Thùy Hương cũng là lúc âm hưởng giọng nói của Hương từ quá khứ vọng về nghe rõ mồn một bên tai.

Lâm Thanh Thùy Hương. Tên dài nhất trong số 14 cô gái năm xưa và cũng không có lót thị như thường tình. Con gái thời đó như Hương là thuộc loại cao, tóc mượt mà, đen nhánh tương phản với tà áo trắng thướt tha. Cuối mái tóc Hương uốn cong rồi thả nhẹ chạm bờ vai. Từng lọn tóc cong cong nhún nhẩy trên vai theo bước chân của Hương. Mỗi khi nói chuyện Hương thường khép nép không được tự nhiên lắm. Bọn tôi đôi lúc nói đùa làm Hương dễ đỏ mặt. Thẹn thùng khép nép đến vậy nên Hương nói sau khi đậu Tú kép đã có lúc Hương định đi tu dòng nữ La San, tôi tin ngay. Rồi duyên tu không thành nên vẫn nặng nợ chồng con. Tôi bảo thôi thì tu đâu cho bằng tu nhà, nuôi con khôn lớn cũng cầm bằng tu đến mấy kiếp rồi.

Kiếp này chúng tôi sinh ra và lớn lên trong một đoạn đường gian truân của dân tộc. Chiến tranh khốc liệt đã chia cắt chúng tôi đôi ngả âm dương. Biến động 75 lại thêm một lần đẩy chúng tôi ra xa, xa lắm… mãi tận trời Âu, Mỹ, Úc. Nhưng qua cơn bĩ cực tới hồi thái lai. Nếu giòng đời là một chuỗi tan hợp hợp tan thì lớp tôi bây giờ ngày càng tìm ra nhiều bạn bè; khoảng cách xa nhưng lại thấy gần gũi lắm. Danh sách lại dài thêm vì may mắn tìm thấy các cô nữ sinh ngày xưa, trong đó có Hiền và Thùy Hương.

Đôi lúc nghĩ trời sinh một mình ta là đủ
Vì đám đông quấy bẩn nước hồ đời
Nhưng nghĩ lại trời sinh thêm bè bạn
Để choàng vai ấm áp cuộc rong chơi.

Thơ Nguyễn Bắc Sơn (Mai sau dù có bao giờ)

Tôi muốn thản nhiên choàng vai bạn bè như thuở nào cùng nhau dạo bước trên hè phố Lê Lợi. Tôi mong siết chặt tay các cô bạn năm nào. Ngày trước khi học chung lớp, chúng tôi chỉ biết nói chuyện chứ làm gì cầm được tay. Đến tuổi này tôi tin chắc các cô (bây giờ đã thành ngoại, nội) chẳng tiếc gì một lần siết chặt tay cho đậm đà tình bè bạn.

Muốn nói bao nhiêu, muốn khóc bao nhiêu
Bài ca đầu xin hát về trường cũ
Một lớp học buâng khuâng màu xanh rủ
Sân trường đêm – rụng xuống trái bàng đêm…

Thơ Hoàng Nhuận Cầm (Chiếc Lá Đầu Tiên)

Cây bàng ở ngay cổng trường không còn nữa nhưng khoảng cách không gian bây giờ ngắn dần lại. Bạn bè bỗng thấy gần gũi hơn bao giờ. Nếu tính năm hội ngộ 2015 thì thời gian cũng đang tiến đến gần. Trường cũ đang chờ bước chân rộn ràng của mỗi chúng ta quay về, họp mặt một lần cho bõ công chờ đợi hơn 40 năm.

Tôi cũng đang háo hức chờ…

 Hà Ngân
Thêm bình luận

Bài vở và hình ảnh xin gởi về This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.