- Đăng ngày 15 Tháng 1 2011
- Lượt xem: 2666
Trường Lasan vào những năm đầu chỉ có đến lớp Đệ Nhị. Đậu Tú Tài lên lớp Đệ Nhất thì phải thi vào trường Cường Để, trường công lập, chứ ở Qui nhơn không có một trường nào khác. Lớp Đệ Nhị ở Qui nhơn thời bấy giờ có khá nhiều trường, nào là Nhân Thảo, Bồ Đề, Lasan, Cường Để, Nữ Trung học, Trinh Vương. Thế mà lên đến lớp Đệ Nhất chỉ còn mỗi trường Cường Để thâu nhận mấy anh chị Tú Một của cả tỉnh. Thế mới biết cái nợ “lều chõng” nó nặng đến thế nào. Như cái học nhà Nho thời Tú Xương, mười người đi học chín người thôi, còn bấy giờ gần như “mười người đi học chín người rơi”. Rơi rớt nhiều lắm, để lấy đủ quân số cung ứng cho các chiến trường trên 4 vùng chiến thuật. Các chị nếu đậu, học lên cũng được, ở nhà cũng được. Phận nam nhi chúng tôi lại khác, phải tiếp tục học, phải tiếp tục đậu mỗi năm cho đến khi trả xong nợ đèn sách. Tất cả chỉ vì hai chữ chiến tranh. Một số các chị được gia đình gửi vào Sàigòn tiếp tục học lên. Điều này khá hiếm vì gia đình phải khá giả, nên thường giải pháp duy nhất của các chị là nộp đơn thi vào trường Sư phạm cạnh trường Lasan. Dùi mài kinh sử sau hai năm là lên chức cô giáo. Giải pháp thụ động nhất là mấy chị ở nhà chờ người mai mối rồi một ngày đẹp trời nào đó khoác áo voan lên xe bông về nhà chồng. Thời tôi, con gái gần “hăm” đã là mối lo cho gia đình rồi, chứ đừng nói như bây giờ, con cháu tôi gần “băm” mà chúng vẫn tỉnh queo. Hỏi thì chúng bảo ở dzậy cho sướng chớ tội gì lấy chồng cho khổ người. Bà chị tôi có điều gào lên, “mày không khổ nhưng tao đang khổ đây này…”
Trở lại chuyện mấy chàng Tú Một. Trai sinh vào thời loạn mà không có duyên với đèn sách thì đành phải “nợ tang bồng vay trả trả vay”. Nợ tang bồng như bóng dáng của Thần Chết đứng lấp ló đâu đó rình mò cơ hội trong suốt học trình từ lớp 11 đến lúc tốt nghiệp đại học. Thi vào khoảng đầu tháng 7, đến đầu tháng 8 thì biết ngay kết quả. Chỉ trong vòng 2 tháng từ lúc bãi trường, số phận mỗi đứa chúng tôi đã được định đoạt, hoặc lên đường nhập ngũ, hoặc học tiếp lên lớp 12. Ở đây tôi không nói đến bổn phận của thanh niên trong thời chiến nhưng chỉ đưa ra một cái nhìn bi quan của các phụ huynh về chuyện lính tráng. Tin tức sôi động ở các chiến trường là nỗi lo âu khắc khoải của bậc làm cha mẹ. Tin dữ đưa về đến trước cửa nhà là mất thằng con. Cha mẹ nào cũng muốn con cái sống đời với mình chứ bao giờ muốn cảnh “lá vàng khóc lá xanh” bao giờ. Vì thế, bậc phụ huynh luôn muốn con cái học lên cao vừa tránh được chuyện đi lính, vừa nở mày nở mặt với xóm giềng. Bắt đầu sau Tết, cha mẹ đều khuyến khích con cái đi học luyện thi rõng rã mấy tháng trường. Tôi cũng rủ mấy đứa bạn đi học chung cho vui. Luyện thi vào thời đó có đến mấy trung tâm, nhưng nổi bật nhất là trung tâm luyện thi của thầy Hai Ngô.
Cần nói thêm về ông thầy đặc biệt này. Nhà thầy ở ven biển song song với đường Nguyễn Huệ, ngay ngã tư Võ Tánh. Tôi còn nhớ phải đi sâu xuống gần biển mới đến căn gác gỗ của thầy. Một căn gác ọp ẹp nhưng đủ chứa khoảng bốn năm chục học sinh. Tính nổi bật thầy Hai Ngô là thầy chưởi tục văng mạng. Khi tức giận, thầy xổ tiếng Đức, thầy vỗ tiếng Đan Mạch vào mặt học sinh thoải mái, theo kiểu bình dân truyền thống. Những người mới học thầy lần đầu cảm thấy ngỡ ngàng, nhất là các nữ sinh, nhưng nghe mãi rồi nhàm. Có cô đỏ mặt, cúi gầm mặt khi nghe thầy văng tiếng Đức tận tình. Riết rồi các cô tỉnh như ruồi, xem như một cơn gió độc thoảng ngang tai, hết ngượng ngùng như thuở ban đầu mới vào lớp. Thật may, thầy chẳng bao giờ chưởi nữ sinh nhưng chỉ nhắm vào mấy thằng học sinh chúng tôi. Nghĩ cũng đúng thôi, vì các cô ngồi học chăm chỉ, cẩn thận chép bài, còn mấy thằng con trai chỉ chờ thời cơ là chọc phá. Thế thì làm sao thầy Ngô không giận cho được.
Một điểm đặc biệt nữa của thầy Hai Ngô, (không… nên gọi là anh Hai cho thân mật, và thầy cũng không ngăn cấm chúng tôi gọi thầy bằng anh) là thầy giỏi về các môn khoa học. Văn chương có lẽ anh Hai không giỏi, bằng chứng là lớp luyện thi của anh chỉ chuyên về Toán, Lý, và Hóa. Anh nổi bật giữa đám dân biển ít học. Anh thông minh, học rộng, giảng bài thao thao bất tuyệt. Hình như anh không tốt nghiệp ở một trường đào tạo chuyên môn nào cả. Anh tự học thì đúng hơn. Vậy mà anh hiểu rõ, hiểu tường tận và đem số vốn tự học giảng dạy lại cho chúng tôi, những sĩ tử sửa soạn lên đoạn đầu đài trả nợ sách đèn. Phải nhìn nhận anh là niềm hãnh diện cho dân biển ở QN thời bấy giờ. Một mình anh Hai Ngô dạy đủ các lớp, từ Toán đến Lý, Hóa. Lớp này vừa ra là đến lớp khác ngay. Học trò nườm nượp vào ra. Không biết vì sợ thi rớt đi lính hay sao mà phong trào học luyện thi đầu thập niên 70 quả rộn ràng, náo nhiệt. Nghĩ cũng không đúng, vì số lượng con gái học thi cũng khá đông, ngang ngửa với bọn con trai chúng tôi. Mà con gái học rớt thì học lại, học đến khi nào đậu thì thôi, chứ không như con trai chúng tôi, rớt một lần là rớt cả đời, không thể có một cơ hội nào khác. Tôi còn nhớ trong số các cô đến học thi có cô con gái của ông thợ chụp hình Trần Đức Cầu, cô Lúa, nhà ở góc Gia Long và Lê Lợi. Đến giờ này, tôi không còn nhớ rõ khuôn mặt của cô nhưng lúc đó Lúa là cây đinh trong lớp. Lúa đẹp thùy mị, dáng vẻ đài các của một gia đình khá giả. Cô mặc bộ đồ thường, bằng lụa thì phải, ôm gọn lấy tấm thân mảnh dẻ, mượt mà. Mái tóc xõa vai, cô thường lắc lắc đầu hất mái tóc ra phía sau, ngồi chép bài nghiêng nghiêng một bên nên bọn con trai chúng tôi ở phía sau thường được chiêm ngưỡng nửa khuôn mặt của nàng. Cái dáng ngồi nghiêng nghiêng cứ như mệnh phụ ngồi bên song cửa trong Chinh Phụ Ngâm và đôi lần hất đầu vuốt tóc làm điệu khiến Lụa đẹp hẳn lên qua ánh đèn néon không đủ sáng. Cái kiểu làm dáng của Lụa làm mấy thằng con trai chúng tôi ngồi đàng sau nín thở quên cả lời thầy giảng. Có lần chúng tôi nói đùa với anh Hai về cô Lúa. Ngô với Lúa cũng giống nhau. Anh Ngô xem ra có vẻ thích thú với lời ghép bông đùa này. Bản tính đàn ông, còn độc thân, nếu được gán ghép với một cô học trò đẹp nhất lớp thì họa là ngu mới từ chối. Riêng anh Hai lại rất thông minh về vấn đề này. Bởi thế, anh chỉ chỉ ngón tay vào mặt chúng tôi, miệng cười giả lả, cái kiểu xô ra để rồi kéo vào, và rõ ràng anh Hai không ngăn cấm chúng tôi nói bông đùa như thế. Sau này, số học sinh ghi danh học đông quá, trung tâm luyện thi của anh Hai Ngô chuyển từ căn nhà ven biển lên một ngôi nhà lầu khá khang trang ở ngay góc đường Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Và câu chuyện hi hữu xảy ra ở tầng hai của trung tâm, vào giờ Vật Lý. Câu chuyện lý thú đến nỗi mấy mươi năm sau tôi vẫn còn nhớ như in. Chuyện liên quan đến một thằng bạn, học chung Lasan với tôi từ nhỏ, cùng ban Pháp văn, cùng ban Toán.
Hôm đó, anh Hai giảng về hợp lực. Nếu các bạn còn nhớ, kết quả của hợp lực là đường biểu diễn của đường chéo hình bình hành. Đại khái, hai lực khác chiều nhưng không ngược chiều, sẽ tạo nên một lực chung, hợp lực này sẽ di chuyển theo đường chéo của hình bình hành. Để học sinh chúng tôi hiểu rõ hơn, anh Ngô đưa ra một ví dụ cụ thể. Như con bò và con trâu cùng kéo một cái cày; con bò là lực thứ nhất, con trâu là lực thứ hai, thì cái cày sẽ di chuyển cùng chiều, nằm giữa con trâu và con bò, tạo nên đường chéo của hình bình hành. Chúng tôi đang cặm cụi ghi chép thì có tiếng một học sinh đặt câu hỏi, không… không phải hỏi, mà là căn vặn thì đúng hơn. Tôi ngưng viết, ngẩng mặt lên và nhận ra đứa dám căn vặn anh Hai là thằng bạn tôi. Thằng Lâm.
Cần nói thêm về Lâm. Phải nói ngay nó là đứa thông minh. Tôi còn nhớ lớp Đệ Lục, cuối năm nó đứng đầu cả lớp. Tướng cao ráo, nhanh nhẹn, và hoạt bát. Thưở đó, nó dạy tôi những trò vặt, làm ảo thuật. Đem về nhà lòe lại mấy đứa em, chúng nghệt mặt nhìn thằng anh, lòng cảm phục vô vàn. Chúng không hề biết thằng anh vừa mới học lóm của thằng bạn ở trường. Nhà thằng này giàu, nên ngay từ lớp nhỏ nó đã làm chủ chiếc xe Honda dame. Nó lại có tài phóng xe như gió. Luồn lách giữa dòng xe cộ nó xem như pha. Có lần nó chở tôi từ trường về nhà, ngồi đàng sau tôi chỉ muốn són đái khi nó phóng vun vút giữa một rừng xe. Nào là xe xích lô, xe nhà binh, xe gắn máy, kể cả những người đi bộ cũng đầy đường, thế mà nó luồn lách thật tài tình. Hình như tốc độ nó phóng không hề giảm từ lúc nổ máy cho đến khi tới nơi. Bởi vậy nó phải luồn lách khéo léo, không thì xảy ra tai nạn. Đôi lúc, cứ tưởng xe húc vào đít xe trước mặt, thế mà chỉ cần một cái lắc tay, chiếc xe vụt qua trong gang tấc. Tôi chóng mặt, hoa mắt, tim đập thình thịch nhưng lại làm bộ tỉnh. Có lẽ nó cũng đoán được, qua hai tay ôm cứng eo ếch của nó vì sợ rớt khỏi xe, ngực ép sát vào lưng thì nó cũng biết tim tôi đang đánh trống ngũ liên. Sau lần đó, tôi thề sẽ khôngbao giờ nhờ nó chở về nhà nữa. Nó còn chơi thể thao khá thạo các môn, từ chạy điền kinh, bóng rổ, bóng bàn, đến bóng đá.
Gần kỳ thi Tú Tài, không hiểu sao nó bị gãy tay, phải bó bột. Ở trường, hỏi nó tại sao gãy thì nó bảo chơi thể thao bị ngã. Mà cũng có thể nó lái xe bị ngã không chừng. Với cái lối lái xe bạt mạng của nó, suốt năm sáu năm trời mới bị gãy tay lần đầu, theo tôi đã là một kỳ công rồi. Bây giờ, với cánh tay bó bột đặt lên bàn, nó hỏi vặn anh Hai:
- Thưa anh, con trâu mạnh hơn con bò, bởi vậy hợp lực không thể là đường chéo được, mà chiếc cày sẽ đi nghiêng về phía con trâu.
Đám học sinh học khá lâu nên biết rõ tính anh Hai. Khi anh giảng, đừng một ai ngắt lời. Khi nào anh cho phép đặt câu hỏi thì tha hồ hỏi. Dòng tư tưởng anh đang tuôn ra ào ạt, nếu bị khựng lại mặt anh sẽ đỏ, rồi anh giận. Mà giận thì anh lại văng tiếng Đức nghe đến chóng mặt. Đó chỉ là phản ứng bình thường của anh Hai khi bị đặt câu hỏi không đúng lúc, mà đây không phải là trường hợp bình thường vì anh bị hỏi vặn và có thằng học sinh dám phê phán anh dạy sai. Đám con gái bây giờ đã ngưng bút. Lúa đưa đôi mắt nai ngơ ngác nhìn anh Hai, ra cái điều thắc mắc sao anh dạy dở thế để học sinh chỉ ra cái sai của anh.
Dưới ngọn đèn nê-ông trắng nhợt, tôi thấy rõ khuôn mặt anh Hai đã chuyển từ tái sang đỏ và chúng tôi bỗng cảm thấy hứng khởi (tâm trạng khá bệnh hoạn chỉ vì bản tính nghịch ngợm). Hứng khởi vì biết sắp có chuyện, sắp nghe anh chưởi tục để thay đổi bầu khí yên ắng từ bấy lâu nay. Phải nhìn nhận chỉ có những đứa thông minh như Lâm mới nhìn ra cái sai, không… không phải sai mà là sơ hở của thí dụ anh Hai đưa ra. Trong khi chúng tôi cứ cắm cúi nghe và viết liên tục, không hề thắc mắc về lời giảng thì nó dám chỉ ra cái sơ hở chết người đó. Ở phía cánh trái đã có tiếng thằng cười hich hích ra cái chiều đắc ý. Bên cánh phải cũng có đứa ngồi gật gù, miệng lẩm nhẩm khá to đủ để cả lớp nghe, hay… hay… đúng quá. Vài ba thằng quá hứng khởi cố tình vỗ liên tục hai tay lên mặt bàn nghe như tiếng pháo chuột nổ ran vào dịp Tết.
Có lẽ lần đầu tiên anh bị hỏi vặn như vậy nên không kịp phản ứng. Anh ú ớ gần như á khẩu rồi anh để mặc cho bản tính tự nhiên chiếm hữu hoàn toàn tâm trí anh. Anh nhìn trừng trừng cái thằng khen hay:
- Hay, hay cái con mẹ gì…
Rồi anh văng tục theo phản xạ tự nhiên cho dù Lúa đang ngồi trong lớp. Tôi để ý lớp nào có Lúa, anh ăn nói cẩn thận hơn, từ tốn hơn; tuy có chưởi thề nhưng không bao giờ đến nỗi. Thế mà hôm đó cơn giận làm anh mất tự chủ. Anh chỉ tay vào mặt Lâm:
- Thằng què tay. Mày ngu quá… con trâu này là con trâu bịnh, mày biết không. Nó bịnh nên nó mạnh bằng con bò.
Lần này cả lớp phá lên cười như vỡ chợ. Tiếng vỗ bàn còn rầm rộ hơn trước. Lâm tuy bị chưởi trước mặt đám con gái, cũng bật cười thoải mái. Tiếng thằng khen lúc nãy gật gù… hay quá… hay quá. Tôi chưởi thầm đồ thằng ba phải. Mà nghĩ cho cùng, nó khen thằng bạn tôi hay cũng đúng, mà nó khen anh Hai hay lại càng đúng nữa. Bỏ qua chuyện chưởi thề của anh Hai, phải nói đây là một giai thoại lý thú giữa thầy và trò. Trò thông minh nhưng thầy chắc chắn phải thông minh hơn. Nếu không giỏi hơn trò, thầy không thể nào đứng trên bục giảng được. Tôi phục thằng bạn tôi, tôi lại càng phục anh Hai vì tài ứng biến nhậm lẹ của anh. Vì nếu không giải thích được thắc mắc chính đáng của thằng bạn tôi, không biết anh sẽ còn dám đứng trên bục giảng nữa không, và nhất là anh còn dám nói chuyện với Lúa nữa hay không.
Từ đó về sau, trong suốt mấy tháng học luyện thi, tôi không còn thấy Lâm hỏi anh Hai một câu nào nữa. Sau bao nhiêu năm, tôi nhớ như in câu hỏi của thằng bạn tôi. Trong lúc họp mặt, tiệc tùng, tôi nhớ chuyện này đem ra kể, cả bàn trong bữa tiệc ai nấy đều cười nghiêng ngả.
Thằng bạn thông minh của tôi hiện đang sống ở Đức, nhưng không hề nói tiếng “Đức” như anh Hai Ngô thuở nào.
Hà Ngân