Phần 3: Lời Thú Tội Chân Tình

Một tuần sau Tết Nguyên Đán, bản thảo truyện ngắn Hạt Đậu Gai được gửi đi cho tất cả thành viên nhóm Lasan niên khóa 1965-1972 nhằm thu thập thêm ý kiến để hoàn chỉnh trước khi đăng thì một thông tin quí giá liên quan đến câu chuyện bất ngờ xuất hiện vào phút chót.

Dán mắt vào màn hình máy tính, không cần phải đọc hết những dòng cuối cùng của bản thảo, Nghiệp nhận thức ngay rằng mình chính là một trong các nhân vật được nêu lên. Không những thế, Nghiệp còn là mắt xích cuối cùng mà tác giả nhắc đến vào cuối câu chuyện. Cầm điện thoại, Nghiệp gọi ngay cho một trong những người tham gia viết Hạt Đậu Gai mà không để ý: bấy giờ đang là giấc chiều ở Châu Âu, tức khoảng 3-4 giờ sáng bên kia bờ Thái Bình Dương của nước Mỹ, cho đến lúc nghe tiếng Ngân giọng khàn khàn bực bội vì bị đánh thức…

- Ngân hả? Tao là Nghiệp đây, chưa kết thúc Hạt Đậu Gai như bản thảo được…

- Cái gì???

- …..

Câu chuyện phần ba Hạt Đậu Gai đã bắt đầu như vậy.

*
* *

Nghiệp lững thững thả bộ theo đoàn người lũ lượt bước đến quảng trường thánh Phêrô. Balô trên vai, chàng gần như lạc giữa rừng người vừa đi vừa chuyện trò bằng đủ mọi thứ tiếng lạ tai. Lúc tờ mờ sáng trời đổ cơn mưa nhẹ nhưng khi mặt trời rọi tia nắng đầu tiên, cảnh vật rực rỡ như bừng lên một sức sống. Gió xua đuổi những chùm mây xám đục bay đi xa, nhường chỗ cho bầu trời Vatican trong sáng, lãng đãng những chùm mây trắng tô hằn lên nền trời xanh biếc trông như một bức tranh sống động theo trường phái ấn tượng. Những quán càphê vỉa hè dọc theo hai bên đường sẵn sàng đón tiếp du khách thưởng thức hương vị của tách cappuccino buổi sáng nhưng hình như không mấy ai tha thiết gì. Cả một rừng người mải miết rảo bước về phía quảng trường, nơi đó số du khách có mặt đã lên đến mấy chục nghìn người. Các phương tiện di chuyển trong thành phố được tận dụng tối đa, bận rộn đổ du khách xuống từ lúc mờ sáng tinh sương. Chuyến đến, chuyến đi, đường phố tràn ngập người. Từ mọi con đường du khách không ngớt tuôn về phía quảng trường. Đoàn người bước rộn ràng như nước chảy. Những bước chân phấn khởi, vui tươi gõ đều trên nền đá tạo nên một âm thanh mang đầy sinh khí. Họ túa đến từ các ngã tư từ sáng sớm, kiếm cho được chỗ gần khán đài trong khuôn viên quảng trường, kiên nhẫn đứng chờ giờ khai mạc. Du khách, phần lớn là những người công giáo – đúng ra phải gọi là khách hành hương, đến từ khắp nơi trên thế giới, nhất là những người Việt lưu vong ở các nước Bỉ, Pháp, Đức, Nga, Anh… Họ bay đến Vatican chọ kịp ngày thứ Bảy, 19 tháng 6. Ngày vinh quang của Giáo hội Việt nam.

Ngày Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong thánh cho 117 vị tử đạo Việt nam.

Nghiệp đến Vatican không mang theo nỗi háo hức của một khách hành hương vì lẽ chàng là người ngoại đạo. Từ Đức, mấy tháng trước chàng đã nghe phong thanh về ngày lễ phong thánh trọng đại này và Nghiệp quyết định lấy mấy ngày phép bay sang Ý. Hơn 15 năm sống ở xứ người, Nghiệp thao thức với nỗi nhớ nhà quạnh quẽ. Chàng mong về thăm quê hương một chuyến, tìm lại ngôi trường cũ, để có dịp sống lại những ngày tháng hồn nhiên của thời niên thiếu. Kỷ niệm vẫn còn đầy ắp trong tâm tưởng, Nghiệp chờ một dịp để mở toang cánh cửa quá khứ, tiếc thay chàng loay hoay mãi đi tìm chiếc chìa khóa như chiếc giày rơi rớt trong hoàng cung của cô bé Lọ Lem thuở nào. Và Nghiệp mải miết đi tìm suốt một thời gian dài đăng đẵng ở xứ người.

Nghiệp tin chắc ngày lễ phong thánh cho 117 vị tử đạo Việt nam là cơ hội cho chàng kiếm được chiếc chìa khóa kỳ diệu đó. Trong đoàn người hành hương, chắc chắn phải có rất nhiều người Việt đổ về từ các quốc gia trên thế giới, không chừng cả nghìn người đến từ quê hương yêu dấu. Lẫn trong rừng người Việt hành hương, Nghiệp hy vọng và thầm mong ước sẽ tìm thấy một người bạn ở Trường Lasan xưa, linh tính cũng bảo cho Nghiệp như vậy trước khi quyết định đến Rome lần này. Chỉ cần gặp được một người bạn, một người quen, một khuôn mặt, hoặc một bóng dáng thân tình nào đó. Và đó là chiếc chìa khóa mà Nghiệp cứ mong mỏi tìm kiếm qua năm tháng dửng dưng trôi qua vô vị.

Vừa bước đến quảng trường thánh Phêrô, Nghiệp cảm thấy hụt hẫng. Cả một biển người trùng trùng điệp điệp đứng sát cánh bên nhau, chật cứng. Đông đến thế thì Nghiệp khó có thể tìm thấy người quen. Chàng cố tiến gần phía khán đài nhưng hình như mọi người đã đứng trật tự theo từng quốc gia, vai sánh vai không có lấy một chỗ trống thì làm sao Nghiệp có thể chen chân đến tấm biển mang tên Việt nam. Chàng có cảm giác quảng trường không đủ ban phát hơi thở giữa buổi trưa hè. Nghiệp gần như ngộp thở giữa rừng người và sau hơn tiếng đồng hồ rảo bước ngược xuôi chàng đành chịu thua đứng dựa vào chiếc cột đèn mong chờ một phép lạ.

Suốt thời gian trung học, Nghiệp học tại trường Lasan Bình lợi, một trường công giáo tại Qui nhơn. Lớn lên trong môi trường đạo hạnh, Nghiệp biết làm dấu thánh giá, biết tham dự thánh lễ khi có dịp. Chàng còn nhớ năm đệ Thất, một người bạn chết bệnh bất ngờ, và các frère tổ chức thánh lễ an táng ngay tại nhà nguyện của trường. Học sinh cả trường ngồi chật cứng các hàng ghế và Nghiệp vẫn còn nhớ như in bài hát mở đầu thánh lễ: Khi Chúa thương gọi tôi về, hồn tôi hân hoan như trong một giấc mơ… Những kỷ niệm đó không hiểu sao vẫn còn hằn sâu trong tâm trí của Nghiệp cho dù ngày tháng đã chồng chất tuổi đời, cuộc sống đã trải qua biết bao thăng trầm. Hôm nay, đứng ngẩn ngơ giữa một thành phố lạ, Nghiệp chợt cảm thấy một nỗi thân quen khi nhìn lại thánh lễ trên màn hình lớn treo giữa quảng trường, cho dù bằng một ngôn ngữ nghe thật lạ tai.

Suốt ba tiếng đồng hồ, Nghiệp lảng vảng ở phía sau của rừng người. Khách hành hương đứng yên lặng tham dự thánh lễ, cùng lắm họ nói nhỏ vào tai người bên cạnh vừa đủ nghe. Tiếng thầm thì mất hút giữa khoảng không gian bao la của quảng trường rộng ngút ngàn. Nghiệp mở mắt thật to nhìn khách hành hương, mở tai thật lớn để cố nghe tiếng mẹ đẻ, thế mà chàng vẫn vô vọng. Hệ thống âm thanh phát đi những lời kinh nguyện bằng tiếng Việt nhưng Nghiệp vẫn mong nghe những lời chuyện trò bằng tiếng mẹ đẻ ở đâu đó chung quanh. Quá trưa, lễ phong thánh chấm dứt và đoàn người lũ lượt tản mác đi ngược lại lối đến lúc sáng. Cũng từng ấy rừng người, cũng từng ấy đường phố. Họ rộn ràng đến, họ rộn rã ra về. Quảng trường thánh Phêrô dãn ra, hơi thở trở lại điều hòa như một lực sĩ sau cuộc chạy đua việt dã. Nghiệp đứng hẳn lại, nhìn dáo dác những khuôn mặt đang hiện rõ dần trong tầm mắt rồi biến mất hút ở phía sau lưng. Dòng người trùng điệp trôi ngược về phía Nghiệp đang đứng lạc lõng giữa quảng trường.

Thời gian không còn nhiều, với nỗ lực cuối cùng, Nghiệp đảo mắt thật nhanh trong rừng người, có một vài khuôn mặt quen quen hiếm hoi, linh tính lại bảo không. Nghiệp lại tiếp tục tìm kiếm, và niềm hy vọng cuối cùng như một phép lạ đang hiện ra trước mặt. Một bóng dáng thân quen đập thẳng vào thị giác chàng. Người đàn bà và một cô gái trẻ đang bước chậm rãi về phía Nghiệp. Họ vừa đi vừa nói chuyện, nhàn nhã như những du khách ngoạn cảnh. Từ xa, Nghiệp bắt được nét thân quen trên khuôn mặt đầy đặn, qua cặp kiếng cận màu đen hằn lên khuôn mặt hồng hào của người đàn bà ở lứa tuổi sáu mươi. Dáng bà tuy đẫy đà hơn xưa, nhưng đôi mắt đó, đôi mắt đã có lần nhìn Nghiệp nghiêm nghị quở trách nhưng đầy ắp tình thương. Từng cái vung tay khi bà nói chuyện với cô gái đi bên cạnh, và cái dáng bước đi khoan thai, chầm chậm khiến Nghiệp không thể nào lầm được nữa. Chàng hăm hở tiến về phía bà:

- Madame, con nè… con là Nghiệp nè.

Người đàn bà đứng khựng lại, nắm lấy tay cô gái khẽ kéo sát vào người bà trong một tư thế dè dặt. Đến lúc đó, Nghiệp mới thấy mình quá đường đột. Chàng cố tìm kiếm người quen cả nửa ngày trời, đến khi gặp bà Nghiệp không kìm hãm được nỗi vui mừng nên chàng vừa gọi tên, vừa tự giới thiệu dồn dập. Chàng vẫn nhớ khuôn mặt hiền từ phúc hậu của Madame Thọ, vị nữ giáo sư Pháp văn duy nhất ở trường Lasan vào thời đó. Suốt thời kỳ trung học, Nghiệp chỉ học Pháp văn với mỗi Madame Thọ nên chàng không thể nào quên được bà. Còn bà, ở một thành phố xa lạ, thình lình gặp một người đàn ông lạ đứng chận giữa đường, tuy gọi đúng tên nhưng bà vẫn cảm thấy quá bất ngờ không biết phải ứng xử ra sao cho đúng. Nghiệp đọc được sự bối rối trên khuôn mặt hiền từ mà chàng tin chắc mình gặp đúng người. Nghiệp ôn tồn:

- Xin lỗi… bà có phải là Madame Thọ không?

Người đàn bà khẽ gật đầu, giọng phảng phất âm hưởng miền đất thần kinh:

- Dạ, tui đây.

- Con là Nghiệp, học trò cưng của Madame ở Lasan Qui nhơn nè.

Người đàn bà nhíu mày, khẽ nghiêng đầu như muốn moi trong trí nhớ hình ảnh của người đàn ông trước mặt :

- Anh là Nghiệp… Nghiệp… mà anh học ở Lasan năm nào?

- Từ đệ Thất đến đệ Tứ con học lớp Pháp văn với Madame, bắt đầu từ năm 65.

Người đàn bà ngẩn người, sửa lại cặp kiếng rồi thú thật:

- Tôi dạy nhiều lớp Pháp văn và cũng có rất nhiều học sinh. Với lại năm 65 đến nay cũng gần phần tư thế kỷ rồi…

Nghiệp phân trần:

- Con biết, nhưng con vẫn nhớ Madame rõ lắm. Vừa nhìn thoáng là con biết ngay Madame, không thể lầm được.

Bà Thọ, tạm gọi bà với tên người chồng cho dù bà vẫn chưa nhận ra người học trò cũ, ân cần vỗ lên vai Nghiệp:

- Tôi biết chắc anh là một trong những học sinh cũ của tôi. Tôi chỉ muốn nhớ anh học ở lớp nào.

Chàng cười trừ:

- Madame dạy quá nhiều học sinh nên làm sao nhớ hết được. Như thế này, nếu Madame rảnh, con mời Madame và cô đây đi ăn trưa với con.

Madame nhìn sang cô gái:

- Đây là cháu con bà chị. Nhưng ăn trưa thì thôi, để lúc khác.

Nghiệp nhanh nhẩu:

- Chắc sẽ không còn lúc khác đâu Madame ơi. Con ở Đức, con không biết Madame bây giờ ở đâu nhưng có lẽ không ở Đức như con. Cho dù Madame ở Đức, nhưng bận rộn với công việc chắc gì có dịp gặp lại Madame. Chỉ có dịp này, Madame cho phép con mời Madame một lần.

Lời mời tha thiết của Nghiệp làm bà Thọ lưỡng lự. Sau 75, Người Việt lưu vong khắp nơi trên thế giới. Nhân dịp lễ phong thánh, họ mới có dịp hội ngộ ở Rôma. Sau lễ, mỗi người mỗi ngả, hy vọng gặp lại nhau quả thật mong manh. Madame ngần ngừ, quay sang cô gái:

- Michèlle, con nghĩ sao?

Bây giờ Nghiệp mới có dịp nhìn Michèlle. Chàng mải nói chuyện với bà Thọ mà quên cô cháu gái xinh xắn tháp tùng bà. Dáng người mảnh mai, vẻ mặt cân đối, cô gái trạc trên dưới 25. Mái tóc cô thả dài chấm vai, hàng tóc chạy dài ngang trán, kiểu tóc shou thuở xa xưa. Cô gái nói tiếng Việt sõi:

- Anh Nghiệp nói có lý chớ dì. Biết bao giờ mới gặp lại. Dì ở Pháp, anh ấy ở Đức. Con nghĩ khó lòng mà gặp lại nhau. Với lại anh cũng có lòng, dì thấy không?

- Thôi được rồi, nhưng dì cháu tôi uống nước thôi nghen.

Nghiệp nắm chặt lấy bàn tay của bà Thọ:

- Cám ơn Madame. Thôi, mình đi.

Ghé vào một quán bên đường, Nghiệp kéo ghế mời bà Thọ. Chàng ngồi đối diện, cô gái ngồi kế bên. Ở Âu châu, hầu hết quán ăn đều dọn bàn ghế ra hàng hiên, nhất là vào mùa hè để hưởng khí trời và ánh nắng. Người bồi đưa thực đơn và cả ba đồng ý chọn thức uống. Riêng chàng gọi một tách càphê cappuccino.

Nghiệp xoay lại chuyện của Madame Thọ:

- Madame bây giờ ở đâu bên Pháp?

Hớp một ngụm nước táo, bà nhỏ nhẹ;

- Tui ở Paris. Chắc anh còn nhớ Quốc, đứa con trai út. Tui bây giờ ở với vợ chồng nó. Còn Pièrre và Matthew đi làm bên Bỉ. Cô con gái út Hélène cũng lấy chồng ở Lyon. Còn anh, vợ con thế nào?

- Con cũng vừa lập gia đình được mấy năm. Hiện ở Hamburg.

Bà Thọ mỉm cười:

- Nói chuyện với anh từ nãy giờ tui cũng mường tượng một chút về lớp Pháp văn lúc đó. Tui không nhớ rõ một ai nhưng tui nhớ là có dạy một lớp mà học sinh chọc phá nghịch ngợm dữ lắm. Không biết anh có học lớp này không?

Quá khứ dần dần hiện ra trong tâm trí của bà Thọ, chàng nghĩ thầm. Cái lớp Pháp văn nghịch ngợm bà nhớ đến chắc chắn phải là lớp của chàng. Trong bốn năm lớp bà dạy, chỉ có lớp đệ Thất năm 65 là lớp nổi tiếng trời đánh thánh… đỡ, các frère và giáo sư phải nhức đầu vì bọn chàng.

- Con tin chắc là là Madame muốn nhắc đến lớp của con. Mấy thằng to đầu thì ít phá hơn, còn bọn nhóc tì như con thì quá sức.

Cô gái đưa tay che miệng, vẻ mặt diễu cợt:

- Anh tự thú nhận nhé! Lớp của anh phá phách đến vậy sao?

Nghiệp vui vẻ:

- Chuyện đã qua lâu rồi nhưng mỗi khi nhớ lại tôi cũng lắc đầu. Sao hồi đó nghịch quá cỡ vậy không biết. Mấy đứa bạn tôi cũng một tuồng như nhau. Hình như lúc đó đứa nào nghịch ngợm đều học Pháp, chứ bọn Anh văn hiền khô à.

Bà Thọ xen vào:

- Học sinh nào mà chẳng nghịch phá, lúc đó tôi cũng có hai cậu con trai trạc tuổi với anh, cũng nghich lắm nhưng tui rất hài lòng vì lớp này nhiều học sinh rất khá môn pháp văn, văn phạm vững, ngữ vựng thuộc nhiều, viết văn tiếng Pháp khá lắm. Tui thương lớp này nhất, phải chi nếu còn hình cũ thì chắc tôi sẽ nhận ra các khuôn mặt đó.

Nghiệp nháy mắt với cô gái:

- Cô thấy chưa, Madame thương lớp của tôi nhất. Mà con lúc đó Madame cũng cưng nhất…

- Vậy sao?

Chàng hãnh diện:

- Đúng. Tại Madame không nhớ thôi, chớ lúc đó con là một trong những học trò cưng của Madame.

Câu chuyện cứ thế kể lan man về những năm học với Madame. Bà Thọ ngồi kiên nhẫn nghe thằng học trò cũ liến thoắng về những lần nghịch phá trong lớp bị phạt, bị quở mắng. Nghiệp chợt nhớ đến một lần chọc phá mà chàng không thể nào quên được. Đã bao nhiêu năm trôi qua, thế mà Nghiệp vẫn nhớ như in lần nghịch ngợm đó. Nó để lại một dấu ấn vĩnh viễn trong tâm trí chàng, thách thức với thời gian. Vì đó là lần duy nhất bọn chàng biết hối hận sau khi chọc phá.

- Không biết Madame còn nhớ hạt đậu gai không?

Bà Thọ nhíu mày:

- Hạt đậu gai? Không… tui chưa hề nghe tên này bao giờ? Chuyện ra làm sao? Anh kể tui nghe coi.

Nghiệp sửa lại dáng ngồi:

- Hạt đậu gai là một loại hạt có vỏ mọc gai cong và cứng. Ném lên tóc là dính bết không thể nào gỡ ra được, chỉ có cách cắt bỏ cả hạt lẫn tóc. Ném lên áo ấm thì sợi len bị xước khi gỡ khỏi áo.

Chợt bà Thọ nghĩ ra một chuyện, bà đập nhẹ lên bàn tay của Nghiệp:

- À, anh nói đến áo len tui mới nhớ. Năm nào đó tui mặc chiếc áo len mới do ông nhà tặng. Chiếc áo màu mỡ gà len chải giả lông thú tui quý lắm. Thế mà mặc lần đó rồi bị dính mấy cái hạt gì… gì…anh vừa nói đó…

- Hạt đậu gai…

- Ừ, hạt đậu gai. Trời ơi, về nhà mấy gỡ cho được mấy cái hạt quỷ quái đó ra thì cái áo len của tôi cũng bị tì vết không còn đẹp như cũ, sau lần đó tôi ít dịp mặc lại chiếc áo này, tui cứ tiếc hoài.

Nghiệp ngập ngừng muốn xin lỗi ngay mà nói không nên lời:

- Madame biết bọn con phá, phải không?

- Tui biết mấy anh phá, nhưng phá làm sao thì tui không biết được.

Michèlle nhìn chàng đăm đăm, tò mò muốn biết câu trả lời. Qua bao nhiêu năm, có lẽ bà Thọ cũng muốn biết làm cách nào mà mấy hạt đậu gai bám chặt vào chiếc áo len của bà. Lần đó, bà biết lớp Pháp văn phá nhưng không hề hỏi thêm một lời. Bà chỉ hiền lành khuyên răn bọn chàng, thế thôi. Chàng nghĩ đến một lần thú tội với bà, giọng ngượng nghịu:

- Bọn con ném lên áo khi Madame quay lưng viết lên bảng.

Bà trợn tròn mắt, đưa hai tay lên trời:

- Trời đất, sao mấy anh nghịch quá sức vậy chớ.

Nghiệp nhìn lảng vào ly càphê, tránh ánh mắt bà Thọ. Ôi! tôi nhớ ra vụ đó rồi, frère Giám thị cứ nằng nặc đòi đưa ra Hội đồng kỷ luật, tôi rất khó xử trong khi bày tỏ ý tôi với các frère… đặc biệt là mức hình phạt…

Ánh mắt bà Thọ mơ màng như nhìn về một quá khứ xa xăm. Bà không nói gì thêm mà chỉ nhìn chàng rồi nhẹ nhàng lắc đầu, chầm chậm.

Nghiệp cúi đầu nhìn lảng vào ly càphê, tránh ánh mắt của bà Thọ… liên tưởng đến hậu quả đã có thể xảy ra lúc đó… có lẽ cuộc đời nhiều đứa trong bọn chàng đã rẽ theo một hướng khác, nếu không có bà…. Thời đó, vào giữa thập niên 60, chọc phá giáo sư là một lỗi nặng, nặng lắm. Hình phạt có thể bị đuổi khỏi trường. Và một gia đình có đứa con bị đuổi khỏi trường học là một điều xấu xa, nhục nhã. Cha mẹ không thể nào chấp nhận được. Vì thế bà Thọ bày tỏ sự ngạc nhiên đến tận cùng là điều dễ hiểu.

- Nhưng tui vẫn không hiểu mấy anh to đầu ngồi đàng xa mà ném trúng chiếc áo len của tui. Mấy anh này xứng đáng là xạ thủ à.

Nghiệp len lén nhìn lên. Một lần nữa, chàng thấy sự thật cần được tỏ bày. Lời thú tội lần này đầy vẻ chân tình:

- Bọn con Madame à! Bọn nhóc tì ngồi mấy hàng ghế đầu chớ không phải mấy thằng to đầu ngồi đàng sau.

Michèlle bật cười. Nụ cười tự nhiên để lộ đôi hàm răng trắng bóng. Khuôn mặt cô gái sáng hẳn lên khi nụ cười nở rộ trên môi thế mà Nghiệp không còn lòng dạ nào thưởng thức vẻ đẹp rực rỡ của cô gái mang dòng máu đất thần kinh. Tiếng cười sảng khoái của cô gái vang lên giữa vỉa hè buổi trưa hôm đó làm Nghiệp cảm thấy nhột nhạt cả người. Giọng cười Michèlle mang chút thông cảm cho tuổi thơ nghịch ngợm, nhưng phần nhiều cho một bí mật vừa được khám phá. Bà Thọ hơi chồm người về phía trước:

- Cái gì? Không phải mấy anh to đầu sao? Vậy mà bao nhiêu năm tui cứ nghi oan cho người ta…

Tiếng bà bỗng nhiên đứt phựt. Thời gian hình như ngừng lại, yên ắng hơn bao giờ. Không gian trùng xuống, cảnh vật hầu như nín thở trong một giây. Tất cả cơ hồ đứng khựng lại. Cảm thấy có điều gì bất ổn, Nghiệp ngước mắt nhìn bà. Đôi mắt mở lớn, bà chỉ chỉ ngón tay vào người chàng, miệng ú ớ như người á khẩu:

- Tui… tui nhớ anh rồi. Nghiệp… Nghiệp thường ngồi ở dãy bàn thứ hai, phải không?

Nghiệp không ngờ câu chuyện hạt đậu gai với lời thú tội chân tình lại giúp bà nhớ đến chàng, nhớ cả đến hàng ghế chàng ngồi mòn cả đũng quần. Nghiệp lắp bắp, triệu chứng mỗi khi có điều gì kích động vượt quá dự liệu của chàng:

- Đúng… đúng… rồi, đúng rồi… Ma… Madame.

- Madame nhớ rồi. Trời ơi, cái thằng Nghiệp lóc chóc lúc đó bây giờ cao to như vầy hả?

Khi nhận ra đứa học trò thời trung học, bà Thọ đổi ngay cách xưng hô với chàng, thân tình hơn, thân mật hơn. Hai tiếng “thằng Nghiệp” lúc này như chiếc chìa khóa mở rộng cách cửa quá khứ đưa chàng về lại mái trường xưa, thấy lại lớp học bên cạnh phòng cha Sanh, vào những buổi trưa oi ả, giọng Madame trong veo đọc một đoạn văn Pháp trong cuốn Mauger, bọn chàng hý hoáy viết vào tập vở, tiếng sột soạt khi giở từng trang sách… Trong một khoảnh khắc, Nghiệp cơ hồ thấy mình bay bổng vượt hàng vạn dặm đường, trở về nơi chốn cũ, có gió biển lùa vào khung cửa sổ, những vui đùa, những nghịch ngợm của tuổi thơ. Chàng ngồi lặng người, đôi mắt nhắm nghiền đê mê với hương dĩ vãng…

Michèlle và bà Thọ thấy Nghiệp ngồi lặng yên như tượng gỗ, hốt hoảng lay tay chàng:

- Con sao vậy?

- Anh Nghiệp, anh Nghiệp…

Chàng choàng tỉnh:

- Không sao, không sao…

Bà Thọ thở phào:

- Madame cứ tưởng có chuyện gì? Mà sao tự nhiên con im bặt vậy?

Nghiệp dấu không nói đến biến chuyển của lòng mình. Bà Thọ gọi chàng là con, xưng Madame, chứ không còn tiếng “anh, tui” khách sáo như lúc mới gặp. Nghiệp bỗng thấy mình nhỏ lại như đứa con trước mặt người mẹ. Nghiệp nhớ mang máng Madame nói không ngờ chàng cao lớn đến thế. Chàng cười bẽn lẽn, lập lại đúng câu nói của bà:

- Thì đã gần một phần tư thế kỷ rồi, Madame.

Cả ba cười xòa. Từ lúc đó, giọng bà Thọ vui tươi, hỏi thăm chàng về những đứa học trò cũ. Nghiệp nói có đứa vượt biển thành công, hiện sống ở Mỹ. Vẫn có người ở lại, ngày tháng chắt chiu theo từng nhịp thở của đất nước. Nghiệp nói thêm, biết tin tức vậy thôi chứ đã mười lăm năm chàng chưa hề có dịp gặp mặt bạn bè dù chỉ một lần.

Nói chuyện thêm một lúc, bà Thọ đứng lên từ giã. Nghiệp không thể giữ thêm vì hai dì cháu phải về khách sạn sửa soạn hành lý để quay lại Paris. Đứng lên, Nghiệp quyến luyến giữ chặt bàn tay của bà Thọ. Chàng nói lí nhí:

- Cám ơn Madame. Chúc Madame luôn mạnh khỏe. Cho con gửi lời hỏi thăm đến mọi người.

Khẽ gật đầu, bà Thọ siết chặt tay Nghiệp. Đôi mắt bà long lanh. Giọng bà chùng hẳn xuống:

- À bientôt!

Nghiệp thả bàn tay của bà, hụt hẫng như buông rơi một quá khứ:

- À bientôt!

Chàng đứng thẫn thờ nhìn bóng dáng hai người đàn bà xa dần và mất hút ở một khúc quanh. Đến lúc này, Nghiệp mới chợt nhớ ra chàng quên hỏi số điện thoại của bà.

Lời cuối:

Truyện ngắn (có thể gọi là bút ký) Hạt Đậu Gai kết thúc bằng lần gặp gỡ Madame Thọ thật tình cờ, nạn nhân của Trò Chơi Quái Ác. Sau một thời gian dài ray rứt, Nghiệp có dịp đại diện cho những Tội Phạm Dấu Mặt để thổ lộ một Lời Thú Tội Chân Tình. Từ đó đến nay, chàng chưa hề gặp lại Madame Thọ một lần nào nữa. Đúng như Nghiệp đoán, lần thú tội đó xem như lần cuối.

Sau cùng, nếu hạt đậu gai ngày xưa ném vào áo khó gỡ ra thì bây giờ tôi cũng mong những hạt đậu gai đó đan dính tình bạn chúng tôi lại với nhau mãi mãi… hỡi đám nhóc tì và đám to xác thuở nào.

 Hà Ngân, Kim Sơn, Hà Quang
Thêm bình luận

Bài vở và hình ảnh xin gởi về This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.