- Đăng ngày 29 Tháng 1 2011
- Lượt xem: 2935
Công thành thân thoái – Yên Tử Trúc Lâm
Sau hai lần đại thắng quân Mông, Trần Nhân Tông thoái vị
Chuyên tu khổ hạnh, lập nên Thiền phái Yên Tử Trúc Lâm.
*
53. Đập tan trăm vạn hùng binh 12
54. Hai lần giặc Hãn hãi kinh chạy dài
55. Vua sáng suốt, tướng hùng tài
56. Muôn dân Đại Việt sát vai chung lòng
57. Lập nên chiến tích kỳ công
58. Rạng danh nòi giống Tiên Rồng năm châu
59. Ngựa Mông rung chuyển hoàn cầu 13
60. Tiến vào Đại Việt vó câu cùng đường

Thành Cát Tư Hãn
61. Cữa Hàm Tử - bến Chương Dương
62. Bạch Đằng - Vạn Kiếp vùi xương giặc Hồ 13
63. Bêu đầu danh tướng Toa Đô
64. Thoát Hoan vỡ mật chui vô ống đồng
65. Xương thành núi, máu thành sông
66. Nhân Tông ứa lệ động lòng Từ Bi
67. Khóc tử biệt thương sinh ly
68. Máu Nguyên máu Việt có gì khác nhau
69. Người gây muôn cảnh khổ đau
70. Hai miền đất nước một màu tan thương
71. Chỉ trên một bãi chiến trường
72. Sinh linh muôn vạn hồn đương kêu gào
73. Bày bể kiếm, lập rừng đao
74. Tranh nhau hai chữ anh hào mà chi
75. Hận thù gốc bỡi sân si
76. Giết người đồng loại chỉ vì lòng tham
77. Mắt nhìn cảnh khổ trần gian
78. Thiện tâm chợt Ánh Đạo Vàng 15 sáng soi
79. Nhân Tông quyết định nhường ngôi
80. Cung Thiên Trường16 ngự, yên vui tu hành
81. Tìm trong tiếng kệ lời kinh
82. Con đường giải thoát chúng sanh muôn loài
83. Xả tâm hòa với Đất Trời
84. Quên thân cát bụi xa rời nẻo mê
85. Trần gian sống gởi thác về
86. Vĩnh hằng khởi tự Bồ Đề Tâm17 hoa
87. Cởi Long bào, khoác cà sa
88. Đổi Nhân Tông lấy Đầu Đà Hương Vân18
89. Lập ra Thiền phái Trúc Lâm
90. Khuyến Vua trị nước Từ Tâm làm đầu

Sơ tổ thiền phái Trúc Lâm,
Tịnh Tuệ - Điều Ngự Giác Hoàng - Hương Vân Đại Đầu Đà tôn giả.
91. Sau khi chứng ngộ đạo mầu
92. Trúc Lâm du hóa19 thuyết câu Đại Từ 20
93. Độ người đối mặt Chân Như 21
94. Dạy người rõ lẽ không hư22 ở đời.
Vũ Thanh
Chú thích:
12Trong hai cuộc xâm lăng lần thứ 2 và 3, mỗi lần quân Mông Cổ đều đưa sang 50 vạn quân .
13Đế quốc Mông Cổ được Thành Cát Tư Hãn thành lập năm 1206 sau khi thống nhất các bộ lạc Turk-Mông Cổ và sau đó bành trướng sang đại lục Á-Âu, khởi đầu bằng việc xâm lược Tây Hạ ở phía bắc Trung Quốc và đế quốc Khwarezm (Hoa Thích Tử Mô) ở Ba Tư. Vào thời kỳ cực thịnh của nó, Hòa bình Mông Cổ (con đường tơ lụa thuộc đế quốc Mông Cổ) đã tạo điều kiện cho giao lưu văn hóa và mậu dịch giữa phương Đông và phương Tây trong thời kỳ thế kỷ 13 - thế kỷ 14.
14Về chiến thắng này, Thượng Tướng Trần Quang Khải có làm bài thơ bất hủ:
“Đoạt sáo Chương Dương độ .
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu nổ lực.
Vạn cổ cựu giang san”.
Dịch:
“Bến Chương Dương cướp giáo. Cữa Hàm Tử bắt thù. Thái bình nên gắng sức. Non nước ấy ngàn thu”
15Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lúc sinh ra toàn thân kim sắc nên khi thành chánh quả Đạo của Người là Ánh Đạo Vàng.
16Sau khi nhường ngôi cho Vua Trần Anh Tông, Nhân Tông lui về hành cung Thiên Trường (phủ Thiên Trường) nay thuộc tỉnh Nam Định để chuyên tu và tìm ra phương pháp trị quốc an dân theo Đạo Từ Bi của Phật Pháp. Hành cung Thiên Trường lấy làng Tức Mặc làm trung tâm, có các cung điện như: Trùng Quang, Trùng Hoa, các cung để cho hoàng thái hậu ở, kho nội khố, cung Hoa Nha … cùng hàng loạt các cung đình khác.
17Biểu hiện của giác ngộ là Bồ Đề Tâm. Bồ Đề Tâm lấy tình thương và từ bi làm căn bản, là nhân tố tối cần thiết để thành tựu Phật quả. Đạt được Bồ Đề Tâm là đã viên thành chánh quả, đạt đạo Bồ Tát.
18Sau khi giác ngộ, năm 1299 Vua Nhân Tông đã xuất gia ở chùa Yên Tử với Pháp Danh là Hương Vân Đại Đầu Đà . Sau Ngài đổi thành Trúc Lâm Đầu Đà và sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử của Việt Nam.
19Sau khi giác ngộ và lập nên thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Hương Vân Đầu Đà đã đổi Phật hiệu thành Trúc Lâm Đầu Đà. Ngài đã đi du hóa khắp nơi trong nước để xiển dương Phật pháp. Năm 1301, nhân có đoàn sứ giả Chiêm Quốc sang Đại Việt, Ngài đã vân du sang chiêm Quốc và đã hứa gả Công Chúa Huyền Trân cho Vua Chiêm Chế Mân để thắt chặt tình giao hảo hai nước tránh họa can qua và tạo ra thế lực chống Nguyên triều đang hăm he trở lại .
20Căn bản của lý thuyết Phật giáo dựa trên Đại Từ, Đại Bi.
21Chân Như: Là cái chân lý thực thể, thực tính đời đời không thay đổi như tính Phật bất sinh bất diệt . Cho nên cũng có thể xưng hiệu Phật là Chân Như.
22Lẽ không hư: Phật dạy vạn sự giai không. Không tức thị sắc.., mọi việc, mọi vật đều là gốc ở không mà ra.